Thursday, June 18, 2015

Đời Phi Công ở Mỹ



Đức Hà
Việt Mercury

Người Việt định cư tại Mỹ đã có dịp sử dụng rất nhiều phương tiện hàng không để di chuyển trong nước cũng như ra nước ngoài nhưng ít người biết rằng trong một chuyến đi nào đó, trên phòng lái lại có một phi công gốc Việt. Ngoài ra gói hàng mà quý vị nhận do công ty UPS giao tận nhà có thể đã được phi cơ của UPS vận chuyển mà phi công cũng là một người gốc Việt.
Hiện nay có bốn phi công gốc Việt bay cho các hãng hàng không Mỹ là American West, Continental, US Airways và UPS. Tất cả đều là phi công quân sự của Không Lực Việt Nam trước năm 1975.
Rất nhiều phi công Việt Nam đã sang định cư tại Mỹ nhưng cũng như nhiều di dân khác đều phải bỏ nghề và chuyển sang nghề khác thì lại có những người may mắn tiếp tục nghề chuyên môn cũ của mình.

Phạm Quang Khiêm là một trong bốn phi công gốc Việt tiếp tục sự nghiệp bay bổng của mình. Ông hiện bay loại phản lực Airbus chở khách cho US Airways trên các đường bay nội địa ở Mỹ.
Vào tháng Tư năm 1975, trung úy Không Lực Việt Nam Cộng Hòa Phạm Quang Khiêm đã được báo chí và người di tản nói đến nhiều cùng với những diễn biến khác của biến cố ngày 30 tháng Tư.
“Tôi đã lấy một chiếc vận tải cơ C-130 đáp xuống một phi đạo bỏ hoang và chở đại gia đình nội ngoại cùng bà con, tất cả là 52 người rồi bay thẳng qua Singapore,” ông Khiêm kể lại.
Ông Khiêm, người tÿ nạn đầu tiên ra khỏi nước trong tháng Tư cách nay 25 năm, nói rằng ông đã thi hành nhiều phi vụ chở người di tản từ Đà Nẵng và Nha Trang nên được chứng kiến những cảnh hỗn loạn, đè đạp lên nhau để lên phi cơ nên ông thấy cần phải tìm mọi cách đưa gia đình ra khỏi nước trước khi tình hình trở nên quá xấu.


Dám nghĩ và dám làm, ngày 3 tháng Tư thay vì chở gạo tiếp tế cho một căn cứ ở Phan Rang, ông đã đáp phi cơ xuống Long Thành để chở toàn bộ gia đình - có hẹn trước và trực chỉ đi Singapore. Tại đó ông bị chính quyền địa phương giam một thời gian ngắn trước khi được đi định cư tại Hoa Kỳ.
Chiếc C-130 đó đã được đem về Mỹ và sẽ được trưng bày tại viện bảo tàng Smithsonian Air Museum đặt cạnh phi trường Dulles ở Virginia vào năm 2003 với cờ vàng ba sọc đỏ sơn bên hông y như khi được đưa ra khỏi Việt Nam năm 1975 cạnh chiếc khu trục cơ A-1 Skyraider lấy từ căn cứ Không Quân Biên Hòa.

Ông Khiêm đã bắt đầu nghề phi công tỵ nạn của mình bằng những công việc thấp nhứt như lái xe bồn đổ xăng cho phi cơ tại một phi trường nhỏ ở thành phố Fullerton, sang đến lái phi cơ taxi hai động cơ chở khách trên những lộ trình ngắn, rồi chuyển sang lái Boeing 727 chở hàng cho UPS, rồi 737 cho hãng Piedmont trước khi chuyển sang hãng US Airways cho tới nay.
Với 30 năm trong nghề lái báy may trong đó có 17 năm lái phản lực cơ chở khách tại Mỹ, ông Khiêm có được một số kinh nghiệm về nghề lái phản lực cơ chở khách mà nhiều người thắc mắc muốn biết lại không biết hỏi ai.

Chớ có mà léng phéng!

Ai đi máy bay cũng thấy trên đó có những nữ tiếp viên hàng không, có cô thì xinh và trẻ, có bà thì luống tuổi và nhan sắc không sao bì được với mấy cô trên Singapore Airlines chẳng hạn; nhưng mấy ông pai-lốt bay chung và ở chung với mấy cô trong cùng một khách sạn nhiều ngày liền, vậy có “léng phéng” gì được không?
Ông Khiêm cho biết: “Hồi xửa hồi xưa, nghĩa là trước năm 1975 có xảy ra những vụ chọc ghẹo mấy cô, nhưng từ ngày vấn đề sách nhiễu tình dục trở thành món thưa kiện béo bở cho luật sư và cho các cô và làm tiêu luôn sự nghiệp của các ông thì mọi người trong phi hành đoàn đều chỉ quan hệ nhau một cách trong sáng và nghiêm chỉnh.”
Ông Khiêm nói thêm rằng không biết các hãng máy bay nước ngoài thì sao, nhưng đối với hãng Mỹ thì hãng nào cũng vậy, đều bắt nhân viên học các lớp về sexual harrassement rất kỹ cho nên không ai dám “có những lời ong bướm nữa.”
Ông Nguyễn Ngọc Châu Phòng hiện bay cho hãng UPS bày tỏ rằng trên mỗi chiếc máy bay của UPS chỉ có đúng hai người lái (cho loại Airbus) hoặc ba người lái (cho loại Boeing) vì khoan sau chỉ toàn chở những thùng hàng đâu cần có nữ tiếp viên nên tuy “hơi buồn” vì thiếu  bóng dáng giọng nói, mùi nước hoa của người nữ nhưng không bao giờ phải lo ngại chuyện “quan hệ tình cảm bất chính.”
Ông Khiêm khẳng định: “Nếu phi công muốn uống cà-phê, trà hay sữa thì OK nhưng các món khác thì không-OK.”

Cấp bậc và lương bổng

Cấp bậc trong ngành phi công dân sự là flight engineer thấp nhứt, co-pilot và sau cùng là captain, chức vụ cao nhứt.
Ông Khiêm nói rằng bắt đầu vào lái cho bất cứ hãng nào cũng phải khởi đầu bằng chức flight engineer tuy chẳng là kỹ sư gì cả - ai cũng vậy, bất kể thâm niên và kinh nghiệm ra sao.
Ông nói: “Nếu một phi công lão luyện của hãng A chuyển sang hãng B thì lại bắt đầu bằng chức thấp nhứt flight engineer là ngồi không và trông chừng các đồng hồ máy móc trên phi cơ.”
Vì lý do đó nên trong một phi hành đoàn người già nhứt, nhiều giờ bay nhứt và nhiều kinh nghiệm nhứt có thể không phải là phi công chánh.
Hiện nay các loại máy bay kiểu mới rất ít đồng hồ nên chỉ còn hai người lái và vai trò flight engineer không cần thiết nữa.
Ông Khiêm giải thích: “Nếu trong một hãng máy bay chỉ có loại phi cơ sử dụng hai người lái, nghĩa là một trưởng phi cơ và một phi công phụ thì lẽ dĩ nhiên người mới tuyển vào được ngay ghế phi công phụ.”
Từ chức thấp nhứt flight engineer lên chức vụ phi công phó rồi trưởng phi cơ không tùy thuộc vào thời gian mà tùy vào chỗ trống và vấn đề dự tranh; Nghĩa là nếu có một trưởng phi cơ nghỉ hưu trí thì có một chỗ trống và bên dưới cứ vậy đôn lên. Ông Phòng chỉ phải ngồi ghế phi công phụ có hơn một năm rồi lên ghế trưởng phi cơ vì hãng UPS bành trướng do đó cần bổ xung ngay các captains cho đội ngũ phi công của mình. Ông Khiêm trái lại, phải giữ chức vụ phi công phụ từ cả chục năm nay. Ông nói rằng tuy phân biệt phi công chánh và phi công phụ nhưng cả hai làm việc và quyền hành như nhau không như người thường hay hiểu lầm là “người chánh có nhiều quyền hành hơn người phụ.”
Về lương bổng thì phi công ăn lương theo giờ bay từ 180 đến hơn 200 đô la/giờ và hàng năm không được bay quá 1,000 giờ bay.
“Nếu cứ tính một cách đơn giản như vậy thì lương căn bản của một phi công là 200,000 đô la/năm,” ông Khiêm nói.
Ông nhấn mạnh thêm rằng không phải vô nghề bay với một hãng hàng không là được lãnh mức lương đó.
Ông nói: “Mới vô nghề năm đầu tiên thì người nào cũng chỉ lãnh 1,500 đô la/tháng mà thôi, sau đó mỗi năm được tăng 20,000; sau 5 năm thì một phi công lãnh mức lương 100,000 đô la cộng thêm với nhiều quyền lợi.”
Với mức lương 100 ngàn thì theo ông Khiêm nghề lái máy bay tương đối “kiếm tiền nhiều  hơn một kỹ sư sau 5 năm ra trường.” Vì vậy ông Khiêm có lời nhắn nhủ với lớp thanh niên Việt là nếu thích cuộc sống bay bổng với đồng lương 6 số thì có thể và nên mạnh dạn chọn nghề bay jet.
“Có thể mượn tiền đi học lái loại phi cơ nhỏ rồi từ từ đi lên, hoặc theo học các trường đại học có thêm chương trình dạy láy máy bay và sau 4 năm vừa có bằng đại học vừa có thêm bằng lái,” ông Khiêm nói.

Vậy điều kiện sức khỏe thì sao?

Khác với phi công quân sự, phi công dân sự không đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện khó khăn về sức khỏe, như chiều cao và tai mắt phải thật hoàn hảo.
“Sức khỏe bình thường, mắt cận thị cũng không sao, cao thấp chẳng thành vấn đề; tôi thuộc loại đàn ông lùn 5.3 feet nhưng trong công ty còn có người thấp hơn tôi nữa,” ông nói.
Ông cho biết lớp phi công tới tuổi về hưu ngày càng nhiều mà các hãng máy bay tiếp tục mở rộng nên trong tương lai 5 hay 10 năm nữa các hãng cần rất nhiều phi công trẻ.
Lái máy bay theo lời ông Khiêm, không đòi hỏi nhiều trí thông minh hay tài giỏi gì và bây giờ lại có thêm máy điện toán trợ giúp nên điều khiển phi cơ trở nên “quá dễ dàng.” Người Việt mình đã học ra kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ thì “học ra phi công đâu có gì mà ngại ngùng,” ông Khiêm nhấn mạnh.
Ông Phòng của UPS Airlines lại khuyến khích cả các cô gái gốc Việt nếu thích bay bổng đi đây đi đó và kiếm tiền không kém phái nam thì nên chọn nghề bay.
Ông nói: “Dân thiểu số và phái nữ luôn luôn được các hãng dành cho mối ưu ái đặc biệt.” Ông còn cho biết thêm rằng hiện nay hàng tuần UPS đều có một chuyến bay đến phi trường Tân Sơn Nhứt, nên nếu ai muốn đi Việt Nam hàng tuần thì xin gia nhập ngay UPS Airlines.

Phi công nào giỏi nhứt?

Nhiều người hay hiểu lầm rằng phi công các hãng nước ngoài không kinh nghiệm hay bay kém hơn phi công Mỹ, “điều này hoàn toàn sai” theo lời ông Khiêm.
Tất cả các phi công trên toàn thế giới khi học lái loại Boeing đều phải qua Mỹ học; nếu không được chấm đậu thì không thể nào lên ngồi ghế tay lái được. Ông cho biết khi liên lạc vô tuyến thì các phi công nước ngoài có thể nói tiếng Anh với giọng khó nghe nhưng tay lái thì vững và hiểu rõ những ngôn từ về hàng không như nhau. Thế nhưng nếu phi cơ gặp trở ngại thì một phi công nhiều kinh nghiệm có thể sẽ phản ứng chính xác hơn một phi công mới vô nghề.
Ông cho biết phi cơ là phương tiện di chuyển an toàn nhứt nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra tai nạn là vì phải xảy ra tai nạn người ta mới biết lý do tại sao để sửa chữa và đề phòng.
“Mỗi năm các phi công phải đi học bổ túc tay nghề hai lần và lớp học này chỉ huấn luyện có một việc duy nhứt là cất cánh lên trời, tắt một máy hoặc tắt hai máy hoặc đưa phi cơ vào trong những tình huống khó khăn nhứt và phi công phải tập đáp sao cho an toàn,” ông Khiêm cho biết.
Ông nói có điều rất lạ là khi máy bay chạy đủ hai, ba hoặc bốn ống phản lực thì phi công có thể đáp “dở” không êm ái và nhẹ nhàng nhưng khi bị trục trặc máy móc lại đáp rất hay vì “lúc đó pai-lốt tập trung tư tưởng rất cao và trổ hết tay nghề.”

Boeing hay Airbus?

Hiện nay nhiều hãng máy bay Mỹ đã được trang bị bằng loại phi cơ do hãng Airbus của Âu châu chế tạo. Câu hỏi đặt ra là phi cơ do Mỹ chế tạo là nhứt thế giới sao lại mua máy bay của ngoại quốc?
Câu trả lời thật giản đơn: rẻ và hiện đại.
“Airbus rất tối tân, dễ bảo trì, uống ít xăng và rẻ,” ông Khiêm giải thích.
Ông nêu thí dụ với cùng một số tiền và mua kiểu máy bay tương đương thì có thể mua 12 chiếc Airbus trong khi chỉ mua được 11 chiếc Boeing mà thôi.
Ông nói: “Ngoài vấn đề giá cả, Airbus sử dụng ít xăng và đó là điều các hãng ưng ý nhứt vì chỉ tiết kiệm một xu cho một gallon xăng thôi thì hãng tiết kiệm được bạc triệu.”
Với số lượng mấy trăm máy bay hoạt động liên tục không ngưng nghỉ 24/24 thì tiết kiệm xăng là điều bức thiết hàng đầu của các hãng hàng không; cho dù khi xăng lên giá các hãng đều tăng giá vé bằng một khoản phụ thu xăng nhớt mà khách đi máy bay phải chịu.
Ông Khiêm và ông Phòng đều cho biết là về mặt hiện đại, máy bay do Boeing chế tạo kém xa Airbus nếu không kể chiếc Boeing 747/400 hay 777 mới ra lò sau này. Thật vậy, trên Airbus chỉ có đúng mấy cái màn hình monitor và điều khiển hoàn toàn bằng máy điện toán.
Ông Khiêm gỉai thích: “Trước khi thi hành một phi vụ chở khách, viên phi công chỉ cần cho máy điện toán trên phi cơ biết hết mọi dữ kiện kể cả lộ trình, thế là computer sẽ tuần tự ra lệnh cho bay đến nơi đến chốn kể cả đáp.”
Ông nói vai trò của phi công chỉ là đưa phi cơ ra đường băng và tống ga cho máy bay vọt về phiá trước, ngốc đầu lên, sau đó xếp bánh xe, xếp cánh cản (flaps) và khi đủ cao độ 1,000 feet thì bấm nút auto-pilot và ngồi … chơi.
“Máy điện toán sẽ đưa phi cơ đi đúng hướng và sau cùng đáp xuống an toàn, đúng sách vở,” ông Khiêm nói. Nhưng các phi công ít khi để cho máy làm công việc này mà thường thì các phi công đều tự tay điều khiển cho phi cơ chạm bánh trở lại với mặt đất.

Quyền lợi của nhân viên phi hành

Ông Khiêm của US Airways nói rằng về việc di chuyển bằng đường hàng không đối nhân viên phi hành nghĩa là cả tài xế ngồi phía trước lẫn tiếp viên ngồi phía sau thì “không thành vấn đề.”
Với cái thẻ flight crew nhân viên phi hành có thể sử dụng bất cứ phi cơ của hãng nào để di chuyển mà không phải mua vé, miễn là có chỗ trống.
Chỗ trống nói ở đây là chổ ngồi sau viên phi công trên phòng lái, chứ không phải chỗ trống trong khoan dành cho hành khách.
Ngoài cá nhân phi công hay tiếp viên được sử dụng phi cơ miễn phí mà luôn cả gia đình vợ con kể cả cha mẹ ruột.
“Cha mẹ vợ thì không được, vì mấy ông pai-lốt cứ thay đổi vợ hoài hoài nên người ta không cho cũng đúng,” ông nói.

Vì có quyền sử dụng phi cơ hàng không dân sự bất cứ vì lý do riêng hay công nên nhân viên trong đội bay không nhất thiết phải ở ngay tại căn cứ xuất phát mà ở đâu cũng được trên nước Mỹ, miễn là chỗ đó có phi trường.
Ông Khiêm nêu thí dụ: “Thường thường thì người ta chọn bay lộ trình xuất phát từ phi trường gần nhà nhứt nhưng nếu nhà ở thành phố khác thì chỉ việc quá giang phi cơ bạn đến phi trường xuất phát để làm việc và ở tại khách sạn; khi xong thì lại quá giang phi cơ bạn về nhà mình.”
Với mức lương 6 số, một cuộc sống bay bổng mà phần lớn thời gian là “trên mây, gần trời và xa đất” và được hưởng nhiều quyền lợi về du lịch, cả hai phi công Khiêm và Phòng đều cho rằng nghề bay rất thú vị và đầy thử thách.
“Đưa mấy trăm hành khách đến bến an toàn là niềm vui chung của mọi phi công chúng tôi,” ông Khiêm nói.

Đọc thêm: Di Tản Qua Mỹ
Bà Quả Phụ MS Phạm Văn Năm
http://www.mytnpa.org/index.php?option=com_content&task=view&id=658&Itemid=142

                                               Bài  được đăng trên Viet Mercury số 98 12/08/2000

Saturday, May 30, 2015

Chị Năm Mông-Rê-An



Đức Hà

MONTRÉAL (Canada) - Nếu có ai hỏi “Sao, dạo này sinh hoạt Chị Năm như thế nào rồi?” thì câu trả lời sẽ rất trong trắng ngây thơ cụ: “Chị Năm nào cơ?” Làm như không biết gì.
Quả thật vậy, Chị Năm - người tình không chân dung, người bạn không biết giận hờn ganh ghét, không nhỏng nhẻo, không vòi vĩnh, cứ đêm đến là đúng hẹn … của thủa thanh niên tràn đầy sinh lực từ lâu lắm rồi đã rời khỏi sân khấu lúc nửa khuya khi diễn viên chính rửa tay gác kiếm. Nói rõ hơn là kể từ khi trung ương bảo, địa phương dứt khoát không nghe. Chị Năm đã ca bài “Thúy đã đi rồi” nhưng hôm nay lại xuất hiện hiên ngang và hùng dũng mỹ miều đúng vào dịp tháng Năm tháng được mệnh danh là International Masturbation Month.

Tháng Năm

Cách nay đúng 20 năm, chính xác là vào ngày 7 tháng Năm, 1995 lần đầu tiên trên thế giới người ta đã chọn một ngày để vinh danh chuyện đó. Công ty Good Vibrations ở San Francisco chọn 7 tháng Năm là ngày bảo vệ quyền được làm bạn với Chị Năm. Lúc đó tên gọi là National Masturbation Day, còn có tên khác là International Masturbation Day. Câu chuyện bắt đầu khi Bộ Trưởng Y Tế thời Tổng Thống Clinton, bà Joycelyn Elders bị ngưng chức vì gợi ý rằng việc làm bạn với Chị Năm là một phần trong chương trình dạy dỗ về tình dục cho sinh viên học sinh. Bà chính thức rời khỏi nhiệm sở ngày 9 tháng Mười Hai, 1994. Thế là từ đó ngày International Masturbation Day được mở rộng và bao gồm nguyên tháng Năm; tên gọi chính thức cũng đổi thành International Masturbation Month. Không biết chuyện “năm, mười, mười lăm …” có thành một môn học ở trường lớp hay không nhưng rõ ràng là có sự khuyến khích động viên.

Journal Métro de Montréal

Nhật báo Journal Métro de Montréal - gọi tắt là Métro, thường được phát không cho hành khách đi xe điện ngẩm ở Montréal, và tự giới thiệu ngay trên manchette là có nhiều độc giả nhất trên đảo Montréal đã dành cả trang báo để vinh danh Chị Năm.
Trang 21, mục Sex Dans La Ville của tờ Métro ra ngày 19 tháng Năm chạy hàng tít lớn: “Guide de Masturbation pour Elle et pour Lui” – mời xem bài đăng trên trang mạng tại đây: 

tạm dịch:”Cẩm nang tự sướng cho nàng và cho chàng” (tự sướng ở đây phải hiểu nghĩa đen và chẳng dính dáng gì với từ selfie)
Xin được chuyển ngữ phần mở đầu thôi, phần nội dung quá nhiều chi tiết gợi cảm và nhậy cảm xin quý vị đọc thẳng giùm bằng Pháp ngữ từ link nói trên.

“Sexo. Bạn có biết là có nhiều điều thú vị cực kỳ với việc tự sướng không? Sự thật là như vậy đấy! Đó là một phương thức tuyệt vời để khám phá và tìm hiểu cơ thể, cũng như nắm bắt những ham muốn nào nhiều nhất của bản thân về tình dục và có cả ngàn lẻ một cách để nhập cuộc. Dưới đây là vài gợi ý nho nhỏ để bạn đạt được khoái cảm tối đa…”

Sau đó tác giả Véronique Vincelli đã dành hai phần Pour Elle (cho nàng) và Pour Lui (cho chàng) để mô tả cụ thể cách thức tự sướng hầu đạt đỉnh tối đa với nỗ lực tối thiểu. Tác giả nhấn mạnh là đừng nên hấp tấp vội vàng hầu nhanh chóng giải tỏa nỗi niềm dâng trào với nhịp độ ma-xát mỗi lúc mỗi tăng cao mà hãy từ tốn, nhẹ nhàng, chậm rãi khoan thai để hưởng trọn vẹn thời gian giao lưu với ... Chị Năm. Vincelli còn gợi ý rằng khi sắp sửa òa vỡ ở đỉnh cao thì hãy cố nín và dừng lại, hít thở thật sâu và bắt đầu lại như chưa có gì - và đó là cách tối ưu để giữ chân Chị Năm dài lâu.

Tuy là bàn chuyện tình dục nhưng rõ ràng bài viết không nhằm mục đích khiêu dâm, kích dục kiểu “Cô Giáo Thảo” vì ngay trang đầu tòa soạn báo Métro đã khẳng định tháng International Masturbation Month được thành hình nhằm phá bỏ những taboos trong vấn đề tự sướng qua trung gian cùa sự nhậy cảm và những cuộc thảo luận nghiêm chỉnh. Vì biên giới giữa chuyện kích dục và giáo dục giới tính rất mong manh cho nên hiểu thế nào cũng được tùy quan niệm khắt khe hay cởi mở tiến bộ của từng cá nhân.
Sau cùng thì với những thành quả đạt chất lượng cao của Chị Năm thì một nghị quyết vinh danh chị là điều cấp thiết phải làm.

Nghị Quyết

XÉT RẰNG, Chị Năm đã đóng góp nhiều công sức trong việc giải tỏa stress, những ấm ức không biết tỏ cùng ai, và là người tình không thể thiếu lúc nửa đêm về sáng; và

XÉT RẰNG, Chị Năm đã một mực thủy chung thắm thiết với chủ thể trong mọi hoàn cảnh, không phân biệt chính kiến hay xu hướng tình duc; và

XÉT RẰNG, Chị Năm là niềm hạnh phúc vô biên của mọi thế hệ thanh niên nam nữ dưới mọi chế độ. Sông có thể cạn, núi có thể mòn Chị Năm mãi mãi là niềm tin yêu và hy vong.

Bởi vậy, đề nghị toàn thể nhân dân một lòng ủng hộ nghị quyết công nhận:
Tháng Năm là tháng vinh danh Chị Năm để cùng hòa đồng với bè bạn khắp năm châu liên hoan mừng International Masturbation Month. 

Sunday, May 3, 2015

Ford's Finest Legacy



By Quang X. Pham
Saturday, December 30, 2006

Quang X. Pham, who was born in Saigon, served as a Marine pilot in the Persian Gulf War. He is a businessman and the author of "A Sense of Duty: My Father, My American Journey." 

"Today, America can regain the sense of pride that existed before Vietnam. But it cannot be achieved by refighting a war that is finished as far as America is concerned. . . . [T]hese events, tragic as they are, portend neither the end of the world nor of America's leadership in the world."
President Gerald R. Ford uttered those words in a speech at Tulane University on April 23, 1975, in the final days of Vietnam's long war. The rowdy crowd roared and gave him a standing ovation. The military draft had ended and American troops and POWs had returned home two years earlier. America had washed its hands of Vietnam, yet millions of lives were still at stake.

 Halfway around the world, my family experienced the unfolding of those tragic events in South Vietnam. For us, it was the worst of times. It seemed like the end of the world to me. I was only 10.
Dwight D. Eisenhower had sent American military advisers to Vietnam to help contain communism and prevent the "dominoes" from falling in Southeast Asia. John F. Kennedy dispatched thousands more in a graduated response to a burgeoning insurgency. Lyndon B. Johnson broke his promise not to send "American boys nine or ten thousand miles away from home to do what Asian boys ought to be doing for themselves." Richard M. Nixon prolonged the killing for another three years despite having a secret plan to end the longest American war ever.

In the end, after two decades of flailing diplomacy in that tiny peninsula, Gerald Ford dealt with the aftermath: empty guarantees made to an ally, promises he could not keep and a "peace with honor" that the congressional Watergate class would not enforce.
Years later Ford wrote a letter to the group of Marines who had evacuated the U.S. Embassy in Saigon. In it he said, "April 1975 was indeed the cruelest month. The passage of time has not dulled the ache of those days, the saddest of my public life."
But Ford became the savior to those lucky enough to escape the taking of Saigon by the North Vietnamese army. "I pray no American president is ever again faced with this grave option," Ford said at a public forum on the legacy of the Vietnam War 25 years later. "I still grieve over those we were unable to rescue." He added that he was thankful America was able to relocate 130,000 Vietnamese refugees (less than 1 percent of South Vietnam's population) and that "to do less would have added moral shame to humiliation."

My family and those other blessed South Vietnamese found ourselves stuck in refugee camps across the United States. Outside the camps, public sentiment against Vietnamese refugees ran high, although at the time we did not feel it directly. The book on Vietnam had been closed for most Americans until the refugees arrived in unprecedented numbers. Only the Hungarian and Cuban refugee resettlements were of comparable scale. Newspapers portrayed the country as split on what to do with the refugees.
In a May 1975 article in the New York Times, Sen. Robert Byrd (D-W.Va.) commented that "barmaids, prostitutes and criminals" should be screened out as "excludable categories." Sen. Joe Biden (D-Del.) "charged that the [Ford] Administration had not informed Congress adequately about the number of refugees" -- as if anyone actually knew during the chaotic evacuation. "I think the Vietnamese are better off in Vietnam," sniffed George McGovern in Newsweek.
At the time, unemployment in the United States hovered near double digits. Perhaps this had something to do with the anti-refugee emotion. In Larry Engelmann's "Tears Before the Rain: An Oral History of the Fall of South Vietnam," Julia Vadala Taft, head of the interagency task force for refugee resettlement, recalled such opposition. "The new governor of California, Jerry Brown, was very concerned about refugees settling in his state. Brown even attempted to prevent planes carrying refugees from landing at Travis Air Force Base near Sacramento. . . . The secretary of health and welfare, Mario Obledo, felt that this addition of a large minority group would be unwelcome in California. And he said that they already had a large population of Hispanics, Filipinos, blacks, and other minorities."

The refugees were extremely fortunate. Our biggest supporter, outside of Julia Taft, was the president of the United States. Even though he had described the Vietnam conflict as "a war that is finished as far as America is concerned," Ford's attention was now focused on the refugees. In May 1975 he visited the camps, and soon after refugees began leaving to start new lives across America. The government wanted to disperse the refugees to spread the cost among many states and communities. By Christmas of that year, all refugee camps had been closed, and the refugees were resettled in every state.
I am not aware of any other politicians, antiwar protesters, esteemed journalists or celebrities visiting Fort Chaffee, Ark., where my family was temporarily housed for two months. But Gerald Ford did.
April 1975 was indeed the cruelest month for us. But thanks to President Ford's leadership, we experienced America's kindness and generosity during our darkest days. We owe him our deepest gratitude in remembrance.
© 2006 Quang X. Pham
"This op-ed first appeared in The Washington Post."



Di Sản Tuyệt Vời Nhứt của Tổng Thống Ford

Quang X. Phạm

LTS: Phạm Xuân Quang, một phi công Thủy Quân Lục Chiến thời chiến tranh Vùng Vịnh và tác giả tập hồi ký “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” hiện là một doanh nhân ở Nam California. 
Bài xã luận “Ford’s Finest Legacy” của Phạm Xuân Quang trên báo Washington Post ngày 30 tháng Mười Hai, 2006 được MyOneViet chuyển dịch với sự đồng ý của tác giả.

“Đồng bào thân mến, ngày hôm nay nước Mỹ có thể hồi phục lại niềm kiêu hãnh từng có trước chiến tranh Việt Nam. Niềm kiêu hãnh đó không thể đạt được bằng cách lại tham gia trận chiến nay đã kết thúc … Những biến cố này, tuy bi thảm nhưng không phải là điềm báo trước ngày tận thế hay sự chấm dứt vai trò lãnh đạo của Mỹ trên trường thế giới.”
Tổng Thống Gerald R. Ford nhấn mạnh trong bài diễn văn đọc tại Tulane University, ngày 23 tháng Tư, 1975, vào giai đoạn cuối của trận chiến Việt Nam dài đăng đẳng. Đám đông sinh viên hét lên xung xướng và vỗ tay vang dội. Chính sách động viên quân đội chấm dứt và binh sĩ Mỹ cùng tù nhân chiến tranh đã trở về hai năm trước đó. Nước Mỹ phủi tay khỏi Việt Nam, cho dù hàng triệu sinh mạng vẫn đang lâm nguy.

Từ bên kia nửa vòng trái đất, gia đình tôi chìm đắm vào những diễn biến thảm thương của miền Nam Việt Nam. Với chúng tôi, đó là thời gian tệ hại nhứt. Dường như là ngày tận thế. Lúc đó tôi chỉ mới 10 tuổi.

Tổng Thống Dwight D. Eisenhower gởi cố vấn quân sự sang Việt Nam để giúp ngăn cộng sản và chận những con bài dominoe không đổ xập. John F. Kennedy điều động thêm hàng ngàn người nữa để đối phó với các cuộc nổi dạy ngày một gia tăng. Lyndon B. Johnson phá vỡ lời hứa trước đó rằng “sẽ không gởi thanh niên Mỹ đi xa hàng chục ngàn dặm để làm công việc mà chính người Châu Á phải tự lo liệu.” Richard M. Nixon kéo dài cuộc chiến thêm ba năm nữa cho dù có kế hoặch mật để kết thúc cuộc chiến dài nhứt của người Mỹ.
Cuối cùng, sau hai thập niên thi hành chính sách ngoại giao không thành công tại bán đảo nhỏ bé, Tổng Thống Gerald Ford phải đối phó với những hệ lụy: những cam kết trống rỗng với một nước đồng minh, những hứa hẹn không thể giữ và một “nền hòa bình trong danh dự” mà Quốc Hội của thế hệ Watergate không thể thi hành.

Nhiều năm sau, trong bức thư gởi nhóm binh lính Thủy Quân Lục Chiến có nhiệm vu di tản Sứ Quán Mỹ tại Sài Gòn, ông viết: “Rõ ràng tháng Tư 1975 là tháng ác nghiệt nhứt. Thời gian trôi qua không làm phai nhòa nỗi đau của những ngày tháng đó, những ngày thê lương nhứt trong sự nghiệp cầm quyền của tôi.”
Thế nhưng Tổng Thống Ford đã trở thành ân nhân của những người may mắn thoát khỏi Sài Gòn khi thành phố này rơi vào tay Bắc Việt. “Tôi cầu nguyện để không một vị tổng thống Mỹ nào sẽ phải đối đầu lần nữa với tình huống nghiêm trọng như vậy. Tôi vẫn thương tiếc những người mà chúng ta không thể cứu được,” ông Ford phát biểu tại buổi hội thảo công khai về hệ quả cuộc chiến Việt Nam 25 năm sau. Ông nói thêm rằng ông biết ơn nước Mỹ đã tái định cư 130,000 người tị nạn Việt (ít hơn 1% dân số Nam Việt Nam) và rằng nếu “ít hơn nữa sẽ chỉ làm tăng thêm nỗi nhục tinh thần vào sự tủi hổ.”

Gia đình tôi và người Việt may mắn bỗng chốc trở thành những con người chen chúc trong các trại tị nạn ở Hoa Kỳ. Bên ngoài trại, tình cảm với người Việt của nhân dân Mỹ không được tốt đẹp, cho dù vào thời gian đó không tác động trực tiếp vào chúng tôi. Với phần lớn người Mỹ, chương cuối của tập sách về Việt Nam đã kết thúc cho đến khi người tị nạn Việt đổ lên đất Mỹ với số lượng lớn chưa từng có. Chỉ có di dân Hung-Ga-Ry và Cuba mới có tầm vóc quy mô như vậy. Báo chí Mỹ mô tả đất nước Hoa Kỳ có những ý kiến khác biệt về việc phải giải quyết như thế nào vấn đề người tị nạn.

Bài viết trên báo New York Times tháng Năm 1975 của Thượng Nghị Sĩ Robert Byrd Dân Chủ-West VA bình luận rằng những “phụ nữ bán ba, đĩ điếm và tội phạm,” phải được phân loại. Thượng Nghị Sĩ Joe Biden (Dân Chủ-Delaware) buộc tội chính quyền Ford đã không thông báo đầy đủ cho Quốc Hội về số lượng người tị nạn,” – làm như ai đó biết hết mọi sự trong lúc di tản hỗn loạn. Ông George McGovern bày tỏ trên báo Newsweek “Tôi nghĩ người Việt sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn ở chính nước họ.”

Vào lúc tình hình thất nghiệp tăng gần hai con số. Có thể điều này phần nào gây nên mối ác cảm với di dân Việt. Trong cuốn “Tears Before The Rain: An Oral History of the Fall of South Vietnam,” của tác giả Larry Engelmann, Julia V. Taft, người đứng đầu cơ quan liên ngành đặc trách công tác tái định cư người tị nạn bày tỏ về tình cảm chống đối đó. “Tân Thống Đốc California Jerry Brown, rất ưu tư về việc tái định cư người tị nạn trong bang của ông. Ông Brown toan ngăn cả phi cơ chở người tị nạn đáp xuống sân bay quân sự Travis gần Sacramento… Bộ trưởng y tế và an sinh, Mario Obledo, cảm thấy rằng gia tăng một số lượng lớn người thiểu số tại California sẽ không được đón nhận nồng hậu. Và ông nói rằng Calfornia đã có đông đảo người Hispanic, Philippines, da đen và nhiều sắc dân khác rồi.”

Người tị nạn rất may mắn. Người hậu thuẫn nhiều nhứt cho người Việt, ngoài Julia Taft lại là Tổng Thống Mỹ. Mặc dù mô tả cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc, ông Ford giờ đây lại chuyển sự quan tâm vào người tị nạn. Tháng Năm 1975, ông viếng thăm các trại, và không lâu sau đó người tị nạn bắt đầu cuộc sống mới tại khắp nước Mỹ. Chính quyền muốn phân tán người tị nạn để cộng đồng và chính quyền các tiểu bang cùng chia xẻ gánh nặng di dân Việt. Vào Giáng Sinh cùng năm, tất cả các trại đều đóng cửa, và người tị nạn được đưa đi định cư tại khắp Hoa Kỳ.

Tôi không được biết về một chính trị gia nào, kẻ chống chiến tranh, các nhà báo uy tín hay nhân vật nổi tiếng đến thăm Fort Chaffee, ở Arkansas, nơi gia đình tôi tạm sống trong hai tháng. Nhưng Tổng Thống Ford có đến.
Nhứt định tháng Tư 1975 là tháng kinh hoàng đối với chúng tôi. Nhưng nhờ sự lãnh đạo của Tổng Thống Gerald Ford, chúng tôi đã biết đến tấm thịnh tình và lòng bao dung của nhân dân Mỹ trong những ngày tháng tối tăm nhứt. 

Chúng tôi hết lòng biết ơn ông.

Thursday, April 30, 2015

Ba Bức Ảnh, Một Cuộc Chiến













Đức Hà

Chiến tranh Việt Nam để lại nhiều bức ảnh độc đáo ghi nhận những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến từ mở đầu đến kết thúc. Hình ảnh một cấp chỉ huy cảnh sát Sài Gòn tử hình một tù binh phe đối nghịch ngay tại mặt trận ngày mồng Hai Tết Mậu Thân của Eddie Adams, một bé gái trần truồng hãi sợ chạy trong điên loạn của Nick Út của thời chiến tranh leo thang 1972, đến cảnh lũ lượt trốn chạy trên nóc một tòa nhà ngày 29 tháng Tư, 1975 đánh dấu sự xụp đổ không thể tránh của Sài Gòn 40 năm trước đây … giờ đây đã đi vào lịch sử. Nhưng hệ lụy của những bức ảnh đó vẫn tồn tại không phai mờ, với nhiều người Việt thì đó là cơn ác mộng, những dấu mốc kinh hoàng của đất nước. Ít nhất 255 ngàn người Việt trở thành thuyền nhân và đến được một quê hương mới, nhiều ngàn người khác bỏ thây ngoài biển khơi, trên đường bộ hay mất tích.
Hơn 1.8 triệu người Việt đang định cư tại Mỹ. Theo Wikipedia có khoảng 3 triệu người Việt định cư tại hải ngoại, phần lớn bỏ nước sau 1975.

Mậu Thân 1968 - Khi Eddie Adams chụp được ảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan nổ súng vào đầu một cán binh Cộng Sản bị bắt làm tù binh thì không phải chỉ một người chết mà đến hai người. Tác giả Adams viết trên tuần báo Time: “Viên tướng giết lính Cộng; Tôi giết viên tướng với chiếc máy hình …” điều mà sau này Adams thú nhận rằng ước gì ông không chụp tấm ảnh đó. Ông viết tiếp: “Ảnh thời sự là vũ khí có sức tàn sát mạnh mẽ nhất trên thế giới. Người xem tin vào nó; nhưng ảnh không nói lên hết sự thật, cho dù cả không bị cắt xén. Ảnh thời sự chỉ nói lên phân nửa sự thật … Điều mà bức ảnh không nói là ‘bạn sẽ xử trí ra sao nếu là tướng chỉ huy vào đúng thời điểm nóng bỏng đó, và lại vừa tóm bắt được điều được gọi là một kẻ ác, sau khi tay này đã giết hại một, hai hay ba người Mỹ?’ Qua phỏng vấn với hệ thống truyền thông độc lập NPR, ông Adams giải thích: “Ông ta (Tướng Loan) chiến đấu cho cuộc chiến của Mỹ, không phải của họ, mà của Mỹ, vậy mà tất cả những quy lỗi đều gán lên ông ta.” Điều chưa được nói trong bức hình là trước đó không lâu vài quân bạn dưới quyền ông Loan bị sát hại vào lúc đã có thỏa thuận hưu chiến giữa hai bên nhân dịp Tết. Sự phẫn nộ của một người chỉ huy ngoài mặt trận – mà Adams sau đó mới khám phá là một người yêu nước, một anh hùng, quyết tâm chiến đấu vì tổ quốc. Mãi về sau khi ông Loan đến định cư tại Mỹ và phải đối đầu với vô vàn khó khăn do bức ảnh gây ra thì chính nhiếp ảnh gia Adams đã xin tạ lỗi với người trong hình cùng gia đình do những tác hại đến danh dự không sao hàn gắn được. Khi ông Loan qua đời ở Virginia, Adams gởi hoa và thiệp chia buồn với dòng chữ “Tôi rất đau buồn, nước mắt đọng đầy trong mắt tôi.” Hơn thế nữa, bức ảnh của Adams còn làm cho phong trào phản chiến tăng thêm cường độ, và hai tháng sau Tổng Thống Johnson loan báo không ứng cử nhiệm kỳ hai. Có ai ngờ một bức ảnh rồi ra đã đưa phong trào phản chiến lan tràn khắp nước Mỹ, một tổng thống phải ngậm ngùi không ngồi thêm nhiệm kỳ hai để vài năm sau đó Việt Nam Cộng Hòa bị xóa xổ.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 - Ngày 08 tháng Sáu, 1972, nhiếp ảnh gia chiến trường Huỳnh Công Út được hãng AP phân công đi thu thập hình ảnh chiến sự trên Quốc Lộ 1 hướng về biên giới Kampuchia nơi đang có giao tranh tại khu vực gần Tây Ninh. Khi đến Trảng Bàng, xe chở ông Út bị tắc nghẽn bởi hàng đoàn xe của cả quân sự lẫn dân sự do địch quân đắp mô phía trước và vẫn còn kiểm soát một đoạn của QL1 trong khi các đơn vị của Sư Đoàn 25 đang càn quét giải tỏa các ngôi làng hai bên lộ. Ông Út gia nhập với toán quân bộ binh để làm nhiệm vụ. Đến khoảng 1 giờ trưa bộ binh gọi phi pháo yểm trợ. Hai chiếc Skyraider xà xuống tọa độ được chỉ điểm gần Thánh Thất Cao Đài và liên tục thả bom nổ, bom xăng napalm, kể cả bắn đại bác. Khói bay mịt mù, tia lửa bắn ra như sao băng, tiếng nổ vang động. Và theo lời tường thuật của Horst Fass và Marianne Fulton trong bài “The Bigger Picture,” không ai nghe tiếng được tiếng súng phòng không bắn trả. Nhưng khi phi cơ đã bay xa thì hàng chục dân làng, quần áo tả tơi, mặt mày hoảng sợ bỗng xuất hiện từ vùng bị dội bom và chạy xối xả về phía quân bạn, nơi nhóm các nhà báo đang chực sẵn. Trả lời phỏng vấn năm 1999, Nick Út kể: “Khi nhóm phóng viên chúng tôi tiến gần đến ngôi làng, chúng tôi thấy đám dân làng đầu tiên chạy ùa ra. Tôi thầm nghĩ ‘Ôi Trời đất’ khi bất ngờ thấy một phụ nữ với chân trái bị napalm đốt cháy tệ hại. Kế đó là một phụ nữ khác bồng bế đứa con - đã chết, rồi một bà nữa bế con nhỏ da cháy nám rớt ra từng mảnh. Khi tôi dương máy chụp những bức ảnh này tôi nghe tiếng khóc thét của một em bé và thấy bé gái vừa chạy vừa ném bỏ hết quần áo đang cháy trên người. Bé gái gào hét gọi nguời anh trai chạy bên trái. Trước khi máy bay bỏ bom, toán lính bộ binh đã kêu to gọi các em nhỏ chạy nhanh nhưng đã quá trễ.”

Ông Út kể tiếp: “Khi bé gái thấy tôi, bé nói ‘nóng quá, nóng quá’ và xin nước uống. Tôi lấy nước cho bé uống và nói thêm là sẽ tìm cách giúp bé. Tôi bồng bé lên và đưa về chiếc xe của tôi, rồi phóng nhanh hướng về bệnh viện Củ Chi, cách đó một giờ đồng hồ. Bệnh viện lại có quá nhiều thương binh, người sống người chết, họ chẳng màng đến bé gái. Tôi nói với họ “Tôi là một nhà báo, hãy làm ơn giúp bé gái này, tôi không muốn em chết.’ Thế là bé gái được chăm sóc ngay.”
Cô gái chín tuổi trong hình tên Phan Thị Kim Phúc. Sau 14 tháng nằm bệnh viện với 17 lần lên bàn giải phẫu, Kim Phúc trở về làng cũ ở Trảng Bàng. Ông Út, năm đó 21 tuổi, đã dùng hai máy ảnh để ghi nhận bức ảnh đoạt giải Pulitzer 1972 – một Leica và Nikon với ống kính dài. Nhưng bức ảnh gây chấn động thế giới đó đưa đến hai sự kiện. Nhằm mục đích tuyên truyền, chính quyền Hà Nội dùng lá bài Kim Phúc cho chiến dịch quảng bá phong trào chống chiến tranh. (Ghi chú: Chỉ bốn năm sau Việt Nam xua quân tiến chiếm Kampuchia.) Theo bài tự thuật “The Long Road To Forgiveness” Kim Phúc nói rằng cô bị gián đoạn học vấn để làm công cụ tuyên truyền cho nhà nước. Nhiều lần cô muốn tự vẫn vì cảm thấy mất thăng bằng trong cuộc sống cho đến khi nghiên cứu sách để tìm đường giải thoát tâm linh, cô đã đọc cuốn Thánh Kinh và sau đó cải đạo từ Cao Đài sang đạo Thiên Chúa. Năm 1986, Kim Phúc được xuất ngoại du học ngành dược và chữa trị vết phỏng ở Cuba. Đến 1992, Kim Phúc cùng chồng Bùi Huy Toàn đi hưởng tuần trăng mật ở Moskva, nước Nga; và khi máy bay đáp lấy xăng tại Newfoundland, Canada, bà và chồng đã trốn ở lại và xin tị nạn chính trị với chính quyền địa phương. Hiện gia đình Kim Phúc và hai con đang định cư tại Ontario, Canada. Nói về bức ảnh của Nick Út, Kim Phúc có lời nhắn với thế giới rằng “Xin đừng nhìn bé gái trong hình như sự than khóc vì sợ và đau đớn hãy xem đó như lời gào thét vì hòa bình.”

Tháng Tư, 1975 – Hôm đó là thứ Ba 29, tháng Tư, phóng viên ảnh Hugh Van Es, gốc Hòa Lan và làm việc cho hãng tin UPI ở Sài Gòn. Ông dùng máy ảnh Nikon, gắn ống kính 300 mm và chĩa về phía nóc nhà kế cận, nơi một chiếc trực thăng của Air America đang chuẩn bị di tản một nhóm hành khách - để rồi ra trở thành cuộc di tản quy mô nhất bằng máy bay trực thăng trong lịch sử. Đó là bức ảnh ghi dấu chương cuối của miền Nam Việt Nam. Một ngày sau đó cuộc chiến Việt Nam – còn được gọi là cuộc chiến “Chống Mỹ cứu nước” chấm dứt. Tuy được chụp ở nơi khác tại Sài Gòn, rất nhiều người lầm tưởng bức hình được chụp sân thượng sứ quán Mỹ trên đường Thống Nhất.
Điều thú vị là 30 năm sau, nhiếp ảnh gia Van Es đã trở lại Việt Nam để viếng thăm những nơi ông và đồng nghiệp từng công tác như đồi Hamburger Hill … Ông kể rằng khi viếng Nhà Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh, ông thấy bản sao của một bức hình do chính ông chụp ghi nhận cảnh binh lính đơn vị nhảy dù Mỹ 173rd Airborne đang tiến quân thì chú thích tại nơi triển lãm lại đề ngược là “đang tháo chạy.” Ông Van Es cho giới chức liên hệ xem bản gốc với yêu cầu sửa lời chú là “đang tiến quân”. Lẽ dĩ nhiên ông bị từ chối. Phát biểu về vấn đề này ông nói: “Tôi chụp những bức hình đó cho thế hệ mai sau, cho lịch sử, và tôi không cho phép họ xuyên tạc lịch sử nhằm mục tiêu tuyên truyền.” Ông nói thêm rằng “vết thương chiến tranh cần nhiều thời gian để hàn gắn. Vào lúc nào đó, tôi sẽ cố gắng lần nữa.”

1975 – 2015 – Eddie Adams qua đời năm 2004, Hugh Van Es năm 2009, Huỳnh Công Út vẫn gắn bó với Associated Press. Hoa Kỳ bỏ cấm vận (1994) và tái lập bang giao với Việt Nam 1995. Năm 2001 hai bên ký thỏa ước mậu dịch song phương mang hai nước cựu thù xích lại gần nhau hơn cho dù 1,319 binh sĩ Mỹ vẫn bị xem là mất tích tại Việt Nam trên tổng số 1,731 trong vùng Đông Nam Á. Trong cùng lúc nhiều thành phố Mỹ - Việt đã kết nghĩa chị em: San Francisco/ TP.HCM, Newport Beach/Vũng Tàu Bà Rịa, Seattle/Hải Phòng, Pittsburgh/Đà Nẵng, New Haven, Honolulu/Huế, Madison/Bắc Giang và mới đây nhất là đề nghị kết nghĩa hai sông Mississippi/Mekong. Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều hồ hởi với chuyện kết nghĩa; tại Fayetteville, North Carolina nơi có trung tâm huấn luyện Fort Bragg, nhiều cựu quân nhân tại đây không hài lòng với việc thành phố của họ kết nghĩa với Sóc Trăng - nhất là hội cựu binh sĩ Sư Đoàn 82 Nhảy Dù. Một số quân nhân xuất thân từ Fort Bragg từng đóng quân tại phi trường Sóc Trăng thời chiến tranh. 

Còn Sài Gòn sau bước ngoặt lịch sử 30 tháng Tư - như mọi người đều biết, được thay căn cước và sổ gia đình bằng chứng minh nhân dân và hộ khẩu, triệt để xóa bỏ tầng lớp tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp tư doanh và tập thể hoá nông nghiệp để tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, nhưng rồi lại được sửa sai để chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với thời gian Sài Gòn vươn cao hơn, rộng hơn, đông hơn, ùn tắc hơn và cũng … ngập nước nhiều hơn. Giai cấp tư sản (đỏ) ngày càng nhiều và giàu gấp bội giới tư sản mại bản trước kia. Trong khi đó việc hòa hợp hòa giải vẫn (mãi mãi) là ảo tưởng. Một bên rập khuôn nhắc đi nhắc lại và kêu gọi tất cả người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt quá khứ, dân tộc, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế và cả những nhận thức, ý kiến còn khác nhau cùng đoàn kết, chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc vv … ­– dù biết rằng chẳng kết quả nào, chẳng ai tin, còn bên kia chỉ đợi dịp là phất cờ vàng xuống đường biểu tình chống đối. 


Nhiều cuốn sách vạch trần sự thật đằng sau bên thắng cuộc do phía bên kia viết hay hồi ký do phía bên này biên soạn đã giúp độc giả thêm hiểu biết về cuộc chiến (Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Bí Mật Vietnam Wikileaks, Những Người Thua Trận, Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Khi Đồng Minh Tháo Chạy ...) Và mới đây nhất hai bộ phim Last Days In Vietnam và Ride The Thunder được trình chiếu cho thấy một góc nhìn khác với Full Metal Jacket, The Deer Hunter, Apocalypse Now ...

Tổng kết thương vong từ cuộc chiến Vietnam: 58,220 lính Mỹ; từ 1,5 đến 3,6 triệu người Việt kể cả thường dân từ hai phía. Sau 1975 ước tính có khoảng 200 ngàn người bị tập trung cải tạo, hầu hết đều được đi định cư tại Mỹ và là một phần của 4,5 triệu người Việt sinh sống ở ngoài Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống của miền Nam (1965-1975) để lại một câu nói giá trị ngàn đời "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm." Trong khi đó lãnh tụ Lê Duẩn của miền Bắc (1976-1986) có câu phát biểu giải thích toàn bộ về công cuộc giải phóng miền Nam“Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô.”

Sau 40 năm thống nhất đất nước, Vietnam được xếp hạng ba (sau Trung Quốc, Nga) về mức độ phá thai nhưng đứng đầu bảng về tỷ lệ phá thai 83.3% (cứ 1,000 phụ nữ thì 83.3 người loại bỏ hay lấy phôi hay thai nhi khỏi tử cung trước khi đến hạn sinh nở.) Theo Google Trends, Vietnam xếp hạng bẩy toàn thế giới về truy cập sex trên mạng, hạng ba về sex đồng tính trong đó Saigon và Hanoi là hai thành phố đứng đầu cả nước về lượng truy cập sex đồng tính. Và thống kê của Liên Hiệp Quốc cho thấy tổng sản phẩm quốc nội - GDP của VN năm 2013 là 1,865 (hạng 141 toàn thế giới.)

Và người Việt hải ngoại cùng Việt kiều yêu nước vẫn về nước, gửi tiền về quê nhà hà rầm (10 - 12 tỉ đô-la theo Ủy Ban về Nguời Việt ở Nước Ngoài). Chỉ có điều những từ xấu xa như “chế độ Mỹ ngụy, ngụy quân ngụy quyền, ôm chân đế quốc, tay sai tư bản Mỹ …” được thay bằng “không có người Việt Nam chiến thắng hay người Việt Nam thua. Đấy là chiến thắng chung của cả dân tộc, khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời, một phần máu thịt của Việt Nam …" và "Nghị Quyết 36.”

Xem Last Days in Vietnam

Wednesday, April 22, 2015

Những Người Con Của USS Kirk (Phần II)



Một Baby Kirk tại trại tỵ nạn


Đức Hà

Chỉ vài ngày sau khi thủy thủ trên chiến hạm USS Kirk gặp gỡ lần đầu tiên với Baby Kirk Phạm Viễn Phương trong buổi liên hoan hội ngộ tại Renton, bang Washington, ngày 12 tháng Tám 2006 thì Baby Kirk Nguyễn Hạnh Nhân xuất hiện.
“Sau khi tầu Kirk đưa đến Subic Bay thì mọi người phân tán, tôi lo cho bà xã đâu còn tâm trí đâu mà liên lạc với gia đình mấy bà bầu cùng đi trên tầu Kirk,” ông Nguyễn Hữu Nhượng, trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Texas.

Ông Nhượng, công chức tại Sài Gòn trước đây kể tiếp rằng sự hốt hoảng khi xuống tàu ra đi, rồi tin Sài Gòn thất thủ, trong lúc lại phải lo lắng cho vợ, bà Nguyễn Thị Nhỏ đang mang bầu đứa con đầu lòng khiến ông hoàn toàn rối trí.
“Kể từ khi vất vả chen chân được xuống tàu HQ3 tại bến Bạch Đằng chiều tối ngày 29 tháng Tư, 1975, thì đầu óc tôi như điên cuồng. Thấy bảo xuống tàu gấp, thì tôi đi chứ chẳng biết đi đâu.”
Ông cho biết tàu không chuẩn bị nước uống và thực phẩm nên khoảng 2-3 ngàn người trên tàu bị đói dài cho đến khi gặp tàu Mỹ tại Côn Sơn.

Hàng ngàn người Việt lênh đênh trên các ghe thuyền, tàu quân sự ngoài khơi hải phận Việt Nam tháng Tư, năm 1975 đã được tàu Mỹ hộ tống hoặc cứu vớt đưa đến Vịnh Subic của Philippines an toàn. Trong số hàng ngàn người này có năm phụ nữ mang bầu được đặc biệt đưa lên tạm trú trên chiến hạm Hoa Kỳ USS Kirk trong suốt chuyến hải hành từ Côn Sơn đến Subic Bay.

Hội Ngộ

Hai mươi chín năm sau, trong lần họp mặt đầu tiên năm 2004 tại San Diego, các thủy thủ trên chiếc Kirk quyết định tìm lại năm phụ nữ từng được họ cưu mang trước đây và nhận những người con của năm bà này làm con nuôi. Năm 2005, qua một bài viết trên báo Người Việt, Baby Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Nguyễn Thị Tường Lan gặp được những người cha nuôi trong ngày USS Kirk’s Reunion tại Orlando, Florida. Năm nay Baby Kirk Phạm Viễn Phương (xem Những Người Con Của USS Kirk - Phần 1), con gái của bà Nguyễn Thị Ân được xum họp với đại gia đình USS Kirk. Và chuyện bất ngờ nhứt là việc tìm thấy của Baby Kirk thứ ba Nguyễn Hạnh Nhân, một kỹ sư ngành hoá tại Dallas, Texas.

Hiện đang hưu trí an nhàn tại thành phố nhỏ Seguin, gần San Antonio, Texas, ông Nguyễn Hữu Nhượng, 67 tuổi nói rằng chuỗi ngày loạn ly vẫn là cơn ác mộng kinh hoàng nhứt đời, nhưng ông cũng không khỏi bỡ ngỡ và không thể quên khi vợ ông sanh con ngày 10 tháng Năm, ’75 trên một tàu hàng Mỹ di chuyển từ Subic đến Guam.
“Sanh xong, họ bắt bả đi tắm và cho ăn đủ thứ kể cả đồ chua mà không kiêng cử gì cả là điều làm tôi ngạc nhiên nhứt khi tiếp xúc với văn minh Mỹ,” ông Nhượng nói trong tiếng cười.

Từ Guam, gia đình ông Nhượng được chuyển trại đến Camp Pendleton, gần San Diego rồi từ đó về với người bảo lãnh ở Seguin.
Tại quê hương thứ hai, gia đình ông Nhượng tiếp tục bành trướng.
“Chúng tôi có thêm hai gái và một trai, tất cả đều chăm học và học thật giỏi, toàn thủ khoa,” ông hãnh diện chia xẻ.

Baby Kirk III

Thế rối, rất bất ngờ vào một ngày trời nóng bức như thường lệ của Nam Texas, ông Nhượng nhận được cú điện thoại làm ông mát rượi cả lòng:
“Ông Vinh trên Seattle gọi cho tôi sau khi hỏi thăm lòng vòng, từ người quen này sang người bạn kia, sau cùng thì tới tôi; cũng may là ông ấy còn nhớ tên Nhường nên cũng dễ kiếm.”
Ông Phạm Xuân Vinh là cha ruột của Baby Phạm Viễn Phương. Ngay sau đó cũng có tin đã “kiếm ra Baby Kirk thứ ba rồi!”

Ba cô gái 31 tuổi, Nguyễn Hạnh Nhân, Phạm Viễn Phương và Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên giờ đây là những con nuôi của tàu USS Kirk và cả ba đang chờ mong sẽ có dịp gặp nhau trong kỳ họp mặt năm 2007 tại Virginia. Cha và mẹ đã cho họ sự sống, nhưng không ai biết điều gì xảy ra nếu gia đình họ không được sự cưu mang của tàu Kirk, 31 năm trước đây. Bởi vậy khi hỏi về cảm xúc của mình trong buổi Reunion 2006 vừa qua, Baby Kirk Viễn Phương bày tỏ:
 “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk, thì không biết ra sao nữa?”

Friday, April 17, 2015

Những Người Con Của USS Kirk



Đức Hà

SEATTLE – Vào trưa ngày 30 tháng Tư, 1975 khi một lá cờ được hạ xuống tại Dinh Độc Lập thì Phạm Viễn Phương vẫn còn nằm trong bụng mẹ trong lúc cha, Phạm Xuân Vinh, mẹ Nguyễn Thị Ân cùng anh hai 4 tuổi đang ngồi trên một chiếc Honda hoảng hốt phóng chạy ra bến Bạch Đằng tìm đường thoát thân, giữa một Sài Gòn hoang tàn hấp hối.
“Chúng tôi phải đi thôi, cho dù tôi đang mang bầu người con thứ hai được 9 tháng có thể sanh bất cứ lúc nào, mà ở lại thì số phận chồng tôi sẽ tù tội, vợ con không biết tương lai ra sao,” bà Ân, kể lại giây phút kinh hoàng nhứt của gia đình họ Phạm, giọng nói ngập ngừng xúc động.
Ông Vinh, từng là giảng viên trường Sinh Ngữ Quân Đội, nay đã 65 tuổi, cư dân Lynnwood, phía bắc Seattle, bồi hồi:
Gia đình Ông Bà Phạm Xuân Vinh tại Renton, WA 2006

“Vào đến Hải Quân Công Xưởng, chúng tôi nhào đại lên tàu Lam Giang HQ402 cùng với khoảng vài ngàn người, chen chúc đến nghẹt thở.”

Nhưng chuyện gì xảy ra sau đó để ngày 18 tháng Năm 1975, bà Ân cho ra đời bé Phạm Viễn Phương trên đất Guam - mẹ tròn con vuông và để Viễn Phương trở thành một trong ba công dân Mỹ gốc Việt đầu tiên sau biến cố ’75 là cả một câu chuyện dài tràn đầy nước mắt hạnh phúc và thương đau, giằng co giữa sự sống và cõi chết. Tuy nhiên hạnh phúc hay sự sống có đến được với hàng ngàn người Việt lênh đênh trên chiếc HQ402 liệt máy và trên 30 tàu thuyền khác cùng trên mươi chiếc trực thăng UH-1 đầy người tị nạn Việt đáp lên tàu Kirk là chính nhờ ơn cưu mang của các chiến hạm Mỹ, đặc biệt là chiếc USS Kirk.
Bà Ân tin chắc “Có Ơn Trên phù hộ.”
Ông Vinh khẳng định: “Chúng tôi may mắn.”
Phạm Viễn Phương, vừa tròn 31 tuổi, tay bồng con trai đầu lòng, 2 tuổi, bày tỏ: “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk?”
Hạm Trưởng USS Kirk khiêm nhường: “Chúng tôi làm theo lệnh với một tấm lòng.”

Ba mươi mốt năm sau, toàn gia đình ông Vinh, nay tăng thêm một rể và một cháu ngoại, đã có buổi gặp gỡ đầu tiên với thủy thủ đoàn chiến hạm Mỹ tại buổi hội ngộ USS Kirk Reunion 2006 tại Renton, Washington. Nếu năm 1975, gia đình họ Phạm điên đảo lo lắng đến cùng cực cho tương lai khi Sài Gòn xụp đổ, thì ngày 12 tháng Tám vừa qua, họ là thượng khách của buổi trùng phùng tràn đầy tiếng cười, tiếng nhạc và lời chúc tụng bình an. Lần thứ ba liên tiếp từ năm 2004, chiến hạm Kirk lại có tuần lễ đoàn tụ để những người con của USS Kirk có thể gặp gỡ, chung vui với những người đã cứu vớt họ trên đường loạn ly năm nào.

USS Kirk

Hạm Trưởng Paul H. Jacob không thể ngờ rằng sự liên hệ của ông với Việt Nam không chỉ dừng ở chín nhiệm kỳ công tác tại vùng biển VN với nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho mặt trận trên đất liền, mà còn mở rộng đại gia đình tàu USS Kirk đến tận ngày hôm nay.
“Có ai ngờ USS Kirk một chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ lại có con cháu là người gốc Việt?” ông nói trong hãnh diện và vui thú.
Tháng Tư, 1975, tàu Kirk có nhiệm vụ chính là yểm trợ cho các đoàn trực thăng làm công tác di tản nhân viên đại sứ quán cùng các cơ quan Mỹ tại Sài Gòn, nhưng nhiệm vụ phụ lại khó khăn hơn nhiều:
“Chúng tôi cũng được lệnh phải cứu giúp người tị nạn trên biển kể cả trực thăng của các phi công VN, và sau đó chuyển họ sang các tàu dân sự đủ an toàn đi đến cảng Subic, của Phillipines.”

Tuy nhiên để đối phó với tình huống bất ngờ khi phát hiện có năm phụ nữ mang bầu gần ngày sanh trong đó có bà Nguyễn Thị Ân, tàu Kirk không có cách nào khác là cấp tốc thành lập phòng hộ sản dã chiến ngay trên tàu.
“Chúng tôi dùng phòng nghỉ của sĩ quan để lập phòng sanh, nhưng năm bà, bà nào cũng khóc lóc rên la thảm thiết, mà chẳng chịu sanh,” ông kể.
Phải nhiều ngày sau khi chuyển đến Guam, bà Nhường (hay Nhượng) sanh đầu tiên, đến bà Ân sanh ngày 18 và bà Nguyễn Thị Tường Lan ngày 22 tháng Năm 1975. Nhưng cũng từ đó USS Kirk và nhóm người Việt mất liên lạc.
Hạm Trưởng Jacob cho hay phải 30 năm sau, nhờ sự giúp đỡ của báo Người Việt, ông mới được gặp người con nuôi đầu.
“Trong cuộc họp mặt năm ngoái tôi gặp con nuôi Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Lan có tên đệm là Kirk, năm nay là con nuôi Phạm Viễn Phương, con của bà Ân, còn phụ nữ thứ ba cũng sanh tại Guam thì chúng tôi vẫn chưa bắt liên lạc được.”

Tuy chiến hạm Kirk được chuyển giao cho Đài Loan năm 1993 và đổi tên thành Fen Yang, nhưng theo lời ông Jacob đại gia đình USS Kirk vẫn còn và ngày một đông con cháu hơn.
“Có vui nào bằng vui đoàn tụ đại gia đình, phải không nhỉ,” ông nói.

Reunion 2006

Đã 31 năm trôi qua, nhưng hình ảnh của những ngày đen tối năm xưa vẫn còn in đậm nét trong từng con người.
Bà Ân, mẹ của baby Kirk Viễn Phương thú nhận: “Thật tình lúc đó chúng tôi không biết chạy đi đâu, dường như có điều gì thúc đẩy nên cứ phía trước chúng tôi liều mình chạy tới.”
Bà Lan, cư dân Long Beach, Nam Cali, mẹ của Baby Kirk Giáng Tiên, cũng y hệt: “Lúc đó tôi chỉ mới 17 tuổi, một thân một mình, bụng mang cháu, thấy hàng xóm chạy thì mình cũng chạy; vậy mà cũng chạy tới tận Mỹ.”
Viễn Phương, thực tế hơn: “Thật là hạnh phúc khi cả gia đình Phương vẫn còn sống và đến định cư tại Mỹ đến ngày hôm nay và Phương có cháu trai đầu lòng, cháu ngoại đầu tiên của tàu Kirk đấy!”

Và trong lúc mọi người từ thủy thủ đến người Việt đều ghi nhận hình ảnh trái ngược khi Mỹ rút năm ‘75, và người Việt chạy tán loạn để vài mươi năm sau cả người Mỹ lẫn người Việt từ từ trở lại nơi đã bỏ đi, thì Hạm Trưởng Jacob lại có thêm công tác không kém phần ngược trái.
“Năm 1975 tôi có nhiệm vụ cứu vớt người Việt trên biển thì nay tôi lại giúp người Việt tháo gỡ bom, đạn và mìn do người Mỹ ném xuống VN.”
Ông Jacob cùng với con trai là thành viên của nhóm chuyên viên đặc biệt đang làm công tác truy tìm dữ kiện về các tọa độ quân đội Mỹ đã dùng để thả bom hay gài mìn tại chiến trường Việt Nam. Người ta ước tính quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 15 triệu tấn bom đạn các loại trong đó có 10% chưa nổ, và tin cho biết có ít nhứt 38,000 người chết và hàng trăm ngàn người bị thương do bom đạn không nổ kề từ khi chiến tranh chấm dứt.
“Với tôi, nhiệm vụ vẫn chưa hết,” ông nói trong bài diễn văn đọc tại buổi Reunion 2006.

Saturday, March 7, 2015

Đất Lành Chim Đẻ


Đức Hà

Mang bầu ở quê nhà Hoa lục, du lịch sang Mỹ và bể bầu tại Cali đang là công thức thịnh hành trong cộng đồng người Hoa ở Mỹ. Bước thứ nhất: mang bầu, chuyện quá dễ với phụ nữ Tàu. Bước thứ hai: visa du lịch Mỹ tương đối không khó. Bước thứ ba: bể bầu ở Cali, vừa đảm bảo mẹ tròn con vuông và hầu như miễn phí. Đó là những yếu tố quyến rũ với giới giàu có trong xã hội tư bản đỏ ngày càng nhiều ở Trung Quốc. Và một khi đã sanh trên lãnh thổ Mỹ thì theo luật, người con đương nhiên là công dân Mỹ; đã là công dân Mỹ thì khi đủ tuổi trưởng thành có quyền bảo lãnh cho cả họ tộc sang Mỹ. Một chuyến du lịch sanh con như vậy là thắng lợi và thành công mỹ man, một công đôi ba việc. Đó là chưa kể khi nội địa bất ổn, bị hỏi thăm về tài sản hay chuyện tham nhũng thì hộ chiếu USA là cái vé đảm bảo cho sự an toàn bản thân.
Chuyện này dường như kéo dài từ nhiều năm nay, xuông xẻ, êm thắm cho dù báo chí Mỹ đã nhiều lần lên tiếng về dịch vụ "Birth Tourism" cho đến thứ Ba vừa qua khi nhiều cơ quan công lực Mỹ đã cùng một lúc bố ráp 20 điểm "tập kết" các bà bầu trên toàn Cali trong nỗ lực ngăn chận các đường dây đưa bà bầu sang Mỹ hợp pháp mà kỳ thật là bất hợp pháp.

Trang web starbabycare, quảng cáo dịch vụ du lịch sanh con ở Mỹ

Người ta thường ví von "đất lành chim đậu" là nơi có điều kiện thuận lợi, dễ làm ăn, nhiều người tìm đến sinh sống. Nhưng đất có nhiều cơ hội nhất thế giới lại là Mỹ thì việc tìm đến để sinh sống rõ ràng không dễ. Nói tóm gọn là xin được cái visa nhập cư Mỹ là cả một quá trình nhiêu khê và phức tạp nếu không nói là dài lâu vô tận. Cái khó không bó cái khôn, phụ nữ Hoa đã chọn con đường tắt, ăn chắc và dĩ nhiên tốn kém qua dịch vụ "Đất Lành Tôi Đẻ" thay vì đi chui kiểu đóng hộp chen chúc trong hầm tầu hay công-te-nơ hôi hám - mà phần lớn chết ngạt khi bị phát hiện. Trong khi đó người Mễ và cư dân Nam Mỹ thường chọn con đường gian khổ, hiểm nghèo để nhập cư trái phép Hoa Kỳ. Họ băng rừng lội suối, vượt sa-mạc ban ngày nóng bỏng, lạnh buốt về đêm để kẻ nào may mắn sẽ đến được đất hứa toàn thây. Từ đó họ thẩm nhập vào cộng đồng nói cùng ngôn ngữ và biến mất. Họ lập gia đình và sanh con và sau cùng cũng dựa trên yếu tố con mang tịch Mỹ để hợp thực hóa căn cước nhân thân bất hợp pháp của họ. Đi đường nào thì đi, may thì trót lọt, thiếu may thì bị bắt, tù đày và cuối cùng trục xuất trở về quê cũ, xui thì bỏ xác nơi sa-mạc hay bị băng đảng ma túy giết hại. Hiện nay vận xui đang bủa vây các bà bầu người Hoa.

Bố Ráp

Bất ngờ vào sáng sớm thứ Ba vừa qua, nhân viên công lực gồm các ngành thuế vụ, di trú, biên phòng, an ninh ngoại giao, cảnh sát và cục điều tra liên bang đã cùng lúc đột nhập và bố ráp 20 địa điểm bị cáo buộc là nơi tập trung các bà bầu Trung Quốc tại nhiều thành phố ở Nam Cali từ Walnut, Irvine, Rancho Cucamonga, Mission Viejo đến Rowland Heights. Tin cho biết đây là cả một tổ chức quy mô hướng dẫn và tư vấn từng chi tiết cho các bà bầu để có thể đi Mỹ và sanh con hợp pháp ở Mỹ. Họ giúp từ khâu xin chiếu khán du lịch Mỹ, cung cấp phương tiện đưa đón sân bay, nhà ở lịch sự khang trang ở Mỹ, bao ăn uống kể cả đưa đi khám thai định kỳ cũng như đi mua sắm, viếng thăm các khu du lịch như Disneyland, Universal Studio ... đến khâu cuối cùng là nhập viện sanh con. Các giới chức cho hay vấn đề người nước ngoài sanh con ở Mỹ vẫn xảy ra trong cộng đồng người Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nigeria và Thổ Nhĩ Kỳ ... nhưng đây là lần hiếm hoi có sự can thiệp mạnh bạo của chính quyền. Các dịch vụ quảng cáo "khách sạn phụ sản" hay "trung tâm phụ sản" thường liệt kê một loạt những ưu điểm khi sanh con ở Mỹ như có quốc tịch Mỹ ngay tức thì, có số an  sinh xã hội, được hưởng giáo dục miễn phí, và quyền lợi di dân cho cha mẹ vẫn được phổ biến công khai tại nước sở tại. Hình ảnh trên truyền hình CBS tối thứ Ba cho thấy rất nhiều trang quảng cáo bằng tiếng Hoa được thấy trên báo in và báo mạng ở Trung Quốc. Trước đây phụ nữ Trung Quốc thường "vượt biên" sang Hồng Kông để sanh nở và hưởng quy chế thường trú Hồng Kông - nhưng Hồng Kông lại sát nách Trung Quốc nên với tay sang Hoa Kỳ là sự lựa chọn khôn ngoan khi vấn đề tài chánh không còn là trở ngại với tầng lớp đại gia mới.

Theo nội dung lệnh tòa cho phép khám xét các cơ sở tình nghi, những cá nhân đứng sau dịch vụ bị cáo buộc gian lận visa, giúp phụ nữ khai gian khi xin cấp chiếu khán du lịch kể cả gian dối khi vào phỏng vấn với nhân viên lãnh sự Mỹ. Tuy không người nào bị bắt giữ trong vụ lục soát nhưng giới chức An Ninh Nội Địa và IRS tịch thu nhiều tài liệu và chứng cớ cùng phỏng vấn các bà mẹ để có thể truy tố hình sự những người cầm đầu tổ chức. Bài tường thuật trên báo mô tả cuộc bố ráp với khoảng 40 nhân viên công lực vào hơn chục khu nhà ở ở Rowland Heights kể rằng khi bị gỏ cửa, có tiếng phụ nữ bên trong nói vọng ra "ở đây có con trẻ." Trong cùng lúc thì nhiều phụ nữ mang bầu ôm bịch quần áo đi giặt rất ngỡ ngàng khi thấy nhà bị khám xét. Một phụ nữ giải thích: "Ngộ là một bà mẹ, ngộ muốn có đầy đủ sức khỏe để sanh nở. Ngộ muốn con ngộ được hạnh phúc được thở không khí tự do." Khi căn hộ này bị khám xét các căn kế bên hé mở bức rèm rồi đóng vội lại ngay tức thì. Người ta nghe được tiếng khóc thé của nhiều con nít vọng ra. Một phụ nữ khác đến từ Hồ Nam hồi tháng 12 cho biết đang có bầu tám tháng và muốn sanh ở Mỹ để tránh né chính sách chỉ được có một con ở quê nhà. Bà còn nói chỉ một tháng nữa là bể bầu và về lại Trung Quốc ngay sau đó. Nhưng vì con bà có tịch Mỹ nên bà bày tỏ sự hân hoan khi con có một tương lai tươi sáng.

Bài tưòng thuật tiết lộ chi tiết về một nhân viên an ninh chìm đã liên hệ với tổ chức để hỏi về chương trình du lịch sanh đẻ ở Mỹ cho thân nhân ở Bắc Kinh. Người này được hướng dẫn tham quan khu nghỉ dưỡng cao cấp gần sân bay John Wayne ở Quận Cam. Người này cũng được hứa sẽ bố trí công ăn việc làm với một cơ sở ma cho thân nhân ở Hoa lục, được cấp một bằng đại học giả, được tư vấn mua trọn gói du lịch bao gồm máy bay khứ hồi và khách sạn hầu dễ thuyết phục nhân viên phỏng vấn Mỹ rằng chỉ đến tham quan Mỹ trong thời gian ngắn và về lại nước nhà. Người của tổ chức còn đòi hỏi cung cấp hình toàn thân để xem bụng bầu lớn cỡ nào trước khi ký hợp đồng. Được biết nhân viên chìm đã liên hệ với nhóm có tên "You Win USA."
Trong khi đó trang web http://www.starbabycare.com/ toàn bằng tiếng Hoa nhưng hình ảnh minh họa cho thấy một nước Mỹ lý tưởng để sanh con như "Comfortable Life, Elegant Environment, Warm and Comfortable Sitting on Experience ..." là một trong những trang web và tổ chức nằm trong mục tiêu của cuộc điều tra. Tin cho biết nhiều tổ chức khác nhau đều sử dụng chung cơ sở và tiện nghi ở Rowland Heights để chứa chấp các bà bầu. Ông Claude Arnold, thuộc cơ quan an ninh di trú Los Angeles nói với báo L.A Times rằng Mỹ là mảnh đất màu mỡ để phát triển các dịch vụ như vậy. Ông cho hay họ được khuyến cáo phải nói dối, chỉ dẫn cách nói dối để không lộ mục tiêu sau cùng là sang Mỹ chỉ để sanh con.

Đơm Hoa Kết Nhụy

Theo ước tính của nhân viên di trú mỗi năm có từ 40 ngàn đến 300 ngàn bà mẹ nước ngoài đến sanh con ở Mỹ. Phụ nữ Tàu được tư vấn nên nạp đơn du lịch đến các thành phố như Hawaii hay Las Vegas thay vì Los Angeles để tránh sự nghi kỵ của nhân viên lãnh sự; họ cũng được khuyến cáo mua tua trọn gói, đặt giữ chỗ và thuê khách sạn để qua mắt. Ngoài việc gian lận visa, các giới chức cho hay họ dự kiến sẽ phát hiện các chi tiết khác như trốn thuế, rửa tiền cùng nhiều hành vi tội phạm hình sự khác. Chi phí cho dịch vụ trọn gói này giao động từ 15 ngàn đến 80 ngàn đô, không tính các dịch vụ sanh nở tại bệnh viện hoàn toàn miễn phí hoặc gia giảm vì tất cả đều khai có lợi tức thấp và không có bảo hiểm y tế.
Một cơ sở ở Irvine đã kiếm được trên hai triệu đô khi đưa hơn 400 phụ nữ vào đẻ tại một nhà hộ sinh ở Quận Cam năm 2013. Một bà chỉ trả $4,080 đô từ biên lại viện phí lên đến gần $29,000, trong khi bà này đi mua sắm toàn hàng hiệu tại Las Vegas. Câu trả lời của các bà bầu với nhân viên điều tra đều tương tự như nhau và xoay quanh chỉ một chủ đề là nếu mọi chuyện đều tốt đẹp ở Trung Quốc thì họ chẳng cần sang Mỹ.

Nhật báo tiếng Hoa World Journal phát hành ở Mỹ cho biết vào tháng 10, 2014 nhân viên di trú ở sân bay Los Angeles đã phỏng vẫn kỹ khách du lịch Trung Quốc đang mang bầu, và nhiều bà đã buộc phải bay trở về quê nhà cũng trên chuyến phi cơ đã đưa họ đến Mỹ.
Hiện không được biết bà bầu nào được phép ở lại để sanh con, bà nào phải về nước và liệu con cái của các bà bầu trước đây có bị tước tịch hay không. Tuy nhiên hệ lụy tức thì của dịch vụ du lịch sanh con trái phép này là tất cả nhân viên di trú tại các cửa khẩu được chỉ thị phải duyệt xét kỹ ngày sanh nở của các bà bầu, chương trình du lịch cụ thể, kể cả bảo hiểm y tế trước khi đóng dấu cho nhập cảnh Hoa Kỳ.