Saturday, July 23, 2016

Đệ Nhất Thợ Cạo

Đức Hà

Nhìn gương mặt của các lãnh đạo thế giới, người ta đều nhận thấy rằng khi tuyên thệ nhậm chức mái tóc người nào cũng đen mượt, óng ả nhưng chỉ sau một nhiệm kỳ thì

            Xoa đầu tóc bạc ngắn nhiều
            So le lởm chởm khó điều cài trâm 

Sau hai nhiệm kỳ thì

            Bao nhiêu năm làm kiếp con người
            Chợt một chiều tóc trắng như vôi

Tuy nhiên kiểu tóc, độ dài - không như mô tả của mấy câu thơ trên vì mái tóc của các Ngài trước sau như một, không bao giờ thay đổi ngoài trừ màu bạc. Lúc nào các lãnh đạo cũng có bác thợ cạo riêng, ăn lương nhà nước chỉ để chăm sóc mái tóc, bất kể giờ giấc nào, tình huống nào, cho dù kinh tế đang lên hay suy thoái, bất kể thị trường chứng khoán NASDAQ, chỉ số S&P lên hay xuống, thị trường địa ốc tăng hay giảm vv... Quan trọng hơn cả là bác thợ cạo tất nhiên phải dùng dao, kéo bén nhọn làm việc trên đầu lãnh đạo thì vấn đề an toàn cho lãnh đạo cần phải đặt lên hàng đầu. Và để duy trì được bác thợ cạo quen biết, khéo tay đồng thời bảo đảm an toàn bản thân tuyệt đối cho lãnh đạo thì phải nảy sinh nhiều chuyện đáng bàn ra tán vào.

Bác Thợ Cạo Nước Mình: BarberGate

Vị đương kim lãnh đạo Hoa Kỳ và sắp mãn nhiệm vào tháng Giêng 2017 chỉ dùng một bác duy nhất từ tám năm nay - nếu tính luôn thời gian trước đó ông ở Chicago, tổng cộng thành 16 năm. Bác Zariff chính là Đệ Nhất Thợ Cạo gọi tắt là FBOTUS (First Barber of The President of the US). Bác có cửa tiệm treo bảng hiệu "Hyde Park Hair Salon" phục vụ cắt sấy gội uốn ép nhuộm chải (không nhận lấy ráy tai) cho cư dân Chicago; vậy làm thế nào bác ở Chicago lại có thể phục vụ cho mái tóc của nhà lãnh đạo trong tòa Bạch Ốc? Chuyện quả quá khó đối dân thường nhưng quá dễ đối với đệ nhất lãnh tụ thế giới. Thế nên mới nảy sinh chuyện BarberGate:

Mỗi tháng hai lần bác Zariff bay về D.C. để làm công việc trùng tu và sửa sang mái tóc cho thân chủ. Tính trung bình khoảng 300 đô vé khứ hồi Chicago - D.C. cộng tiền công cắt là 21 đô/một lần. Tính chung 12 tháng 7,200 đô vé máy bay + 504 đô tiền cắt = 7,704 đô/năm. Báo đăng như vậy và đặt dấu hỏi: ai thanh toán số tiền này? Chính người được cắt tóc móc bóp trả tiền cộng với tiền bo hay dùng quỹ riêng tòa Bạch Ốc - do tiền thuế của bá tánh chi trả. Bí mật quốc gia. Cho đến nay chưa ai biết khoản gần tám ngàn đô đó do ai đài thọ hay từ ngân sách nào chi ra. Wikileak cũng chịu thua khoản chi tiêu này. Bác Zariff dứt khoát không cho biết chi tiết liên quan đến chi phí vụ cắt gội này, bác cũng không tiết lộ ngày nào bác lên máy bay đi D.C. Bác chỉ phát biểu đúng một câu:
"Khách hàng quen có lấy hẹn hay walk-in, nhân vật VIP nổi tiếng hay phó thường dân, tất cả đều có một giá duy nhất 21 tì. Chấm hết."
Nói thì nói vậy thôi chứ nổi tiếng như bác Zariff thì ai đó đi ngang tạt vào và đợi cắt chắc còn khuya mới tới phiên.
Ông nói thêm rằng ông đến đó (tức thủ đô D.C) chăm sóc mái tóc cho Ổng vậy thôi - chuyện đến đó bằng phương tiện gì hay thời gian nào thì chỉ là chuyện không đáng quan tâm. Nếu bàn rộng ra rằng tòa Bạch Ốc có đưa một chiếc máy bay nhỏ hai chỗ ngồi để đón bác thợ cạo từ Chicago về D.C. phục vụ lãnh đạo thì bàn dân thiên hạ cũng đành botay.com

Hẳn nhiên đó là chuyện riêng tư giữa vị lãnh đạo tối cao USA và bác FBOTUS nhưng đối với truyền thông thì lại là chuyện lớn nếu không nói là lớn chuyện vì sự hao công tốn của.
Một độc giả phê phán trên Fox News Nation: "Rõ ràng là tổng thống chẳng màng đến chuyện tác hại môi sinh chỉ vì muốn làm đẹp mái tóc do đôi bàn tay quen thuộc."
Bác Zariff phản hồi ngay và cho rằng nếu bạn bạ đâu hớt tóc đó thì cái đầu bạn sẽ ra sao. Bác hỏi thêm vậy bạn có muốn đưa mái tóc cho một người quen làm thường xuyên không? Phát biểu xong bác Zariff hãnh diện khoe: "Tôi là thợ cạo chính thức của Ổng."
Như đã nói ở trên, gương mặt của lãnh đạo luôn luôn phải gọn gàng, đều đặn, sáng sủa để tạo một hình ảnh tối ưu. Chả thế mà tục ngữ Việt Nam có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người." Ngay cả Thượng Nghị Sĩ Bernie Sanders nếu được chọn làm tổng thống cũng sẽ phải xóa bỏ mái tóc bạc trắng bay lù xù trong gió hiện nay.
Điều cần phải nói thêm là tại cửa hiệu cắt tóc của bác Zariff ở Chicago có liệt kê "kiểu tóc Obama," ai thích thì bác chiều. Cũng tại đó chiếc ghế mà ngày xưa Thượng Nghị Sĩ Obama - dạo còn ở Chicago vẫn ngồi để tỉa tóc thì nay bác Zariff cho đóng kín trong lồng kiếng đạn bắn không thủng, để không bị vấy bẩn tóc người khác.

Khi được hỏi rằng bác có nhận thấy tóc của POTUS ngày một bạc hơn không thì bác trả lời rất ba phải: "Ở lứa tuổi đó tóc ai chả bạc." Sự thật thì thời POTUS nào cũng vậy qua nhiệm kỳ hai thì ai nấy đều bạc - bởi vì có cả trăm thứ đổ lên "đầu" đủ các nghị trình, đủ mọi vấn đề từ chuyện xả xúng trường học, Ai-Sít khủng bố, biển Đông, chiến tranh Iraq, muỗi Zika, bạo lực cảnh sát, nay đổ quân chỗ này, mai tăng viện chỗ kia, cứu trợ thiên tai vv...Tóc tuy bạc nhưng cho đến nay chưa thấy có vị tổng thống nào nhuộm tóc cả.

Bác Thợ Cạo Nước Bạn: CoiffeurGate

Nếu ở trời Tây chuyện lãnh đạo có phòng nhì hay tình cảm lăng nhăng, thậm chí có con ngoài luồng là chuyện thường - không được xếp hạng xì-căng-đan, thì chuyện cái tóc cái tai lại thành to chuyện. Tin cho hay Tổng Thống thuộc đảng Xã Hội Francois Hollande ở Pháp mới bị phát hiện đã chi trả hàng tháng 11,000 đô (mười một ngàn đô) lấy từ ngân sách quốc gia để chăm sóc mái tóc được mô tả là tóc chả bao nhiêu mà hói rất nhiều.
Tuần báo trào phúng Le Canard Enchainé, số ra ngày 13 vừa qua chạy tít màu đỏ "Document: 9895 euros, c'est le salaire mensuel du coiffeur de Hollande!" Và đó cũng là phiên bản tiếng Pháp CoiffeurGate của BarberGate USA.

Bị chất vấn về vụ CoiffeurGate tại cuộc họp báo hàng ngày, người phát ngôn của điện Élysée chống chế (yếu xìu): "Ơ kìa ai cũng phải hớt tóc phải không nào?"
Thì đúng vậy, ai chả phải đi hớt tóc nhưng trả lương cho bác thợ cạo gần bằng lương bộ trưởng trong nội các thì hơi bị vượt chỉ tiêu nhỉ. Bác Olivier B. - không rõ là tên thật hay bí danh của Đệ Nhất Thợ Cạo Pháp, có vài ràng buộc như phải tuyệt đối giữ bí mật nghề nghiệp và phải có mặt bất kể lúc nào có yêu cầu nghĩa là 24/7 khi nhận job trong phủ tổng thống. Bởi vậy bác B. than phiền với Le Canard Enchainé rằng ngay cả các con ra chào đời ông cũng không bao giờ có mặt.
Tổng Thống Hollande, vốn đã không được sự ủng hộ của toàn dân, lại càng mất điểm với vụ CoiffeurGate. Người dân bực bội vì lương bác thợ cạo quá cao mà công việc chả bao nhiêu vì lãnh đạo đâu còn bao nhiêu tóc, trong khi mức thu nhập bình quân của dân Pháp không quá 41,000 đô/năm.
Nói về nỗi cơ cực của bác B., phát ngôn viên nhà nước cho hay ông ta phải bỏ cơ sở làm ăn để bám theo lãnh đạo, kể cả khi lãnh đạo đi công cán xa. Thế nên bác chỉ có một vị khách duy nhất là Tổng Thống Pháp.
"Thế nên mức lương như vậy là xứng đáng, khi ông ta còn phải nuôi vợ con," báo Le Canard Enchainé trích lời người phát ngôn. Nói theo chữ ở trong nước rất phổ biến hiện nay là "tuyển dụng đúng quy trình."

Người dân hẳn nhiên không mấy đồng tình với lối phung phí ngân sách như vậy - thế nên điểm hậu thuẫn cho ông Hollande ngày càng đi xuống thảm hại. Ấy vậy mà lúc tranh cử đối đầu với ông Nicolas Sarkozy, ông tự xưng là "một con người bình thường" và thường xuyên chỉ trích sự hoang phí của người tiền nhiệm.
Trả lời phỏng vấn của báo chí nhân ngày 14 Juillet vừa rồi, Tổng Thống Hollande nói phớt về vụ CoiffeurGate:
"Kể từ khi thắng cử năm 2012, tôi đã tự giảm mức lương 30%, giảm ngân sách điện Elysee 9 triệu euros và cũng cắt giảm 10% nhân viên phủ tổng thống. Quý vị có thể chỉ trích tôi về bất cứ chuyện gì ngoài chuyện đó."
Dựa vào thăm dò dư luận, truyền thông Pháp bình luận:"Chắc đây là lần cuối ông ta dự lễ duyệt binh ngày Quốc Khánh 14 tháng Bảy."
Pháp sẽ có tổng tuyển cử vào tháng Năm 2017.


Điểm sau cùng cần nhấn mạnh là nếu ứng viên hàng đầu của đảng Cộng Hòa hiện nay mà trúng cử tổng thống ngày 08 tháng Mười Một năm nay thì dĩ nhiên bác Zariff sẽ không còn dịp lui tới tòa nhà màu trắng nữa - nhưng bác Đệ Nhất Thợ Cạo tương lai sẽ phải tốn nhiều thời gian để chăm sóc cho mái tóc rất đặc biệt của nhà tỷ phú bộc trực ăn to nói lớn. Chỉ có điều người thọ thuế không phải lo vì ổng quá nhiều tiền để phải lợi dụng ngân sách nhà nước.

Wednesday, June 29, 2016

BLITZ MEDICAL GROUP: Phòng Mạch 15 đô

Đức Hà
Việt Mercury

Thất nghiệp, mất bảo hiểm y tế, gia đình đông người, tiền nhà chưa kịp trả và bị bệnh thì làm sao? Câu hỏi này được bác sĩ Lê Văn Minh trả lời như sau:
“Nhóm y tế Blitz sẽ giúp khám bệnh và chữa trị với lệ phí tối thiểu.”
Thành lập từ tháng Tám, 2002 Blitz Medical Group có mục đích cung cấp cho cộng đồng dịch vụ y tế chỉ với 15 đô la lệ phí khám bệnh, bất kể bệnh nhân thuộc thành phần nào và có bảo hiểm hay không. Vì thế câu châm ngôn của Blitz là “Home of the $15 exam,” được ghi rõ trong phòng mạch trên đường số 14 tại San Jose


Vào lúc phí bảo hiểm y tế ngày một tăng cao và việc chữa bệnh đối với người không bảo hiểm là một trở ngại lớn khi tiền khám bệnh thông thường ít nhứt cũng 30 đô la và thường thấy ở mức 80 đô la chưa kể tiền viết toa, làm xét nghiệm máu, nước tiểu … tổng cộng cũng lên đến 200 đô la hay hơn nữa đã trở thành nỗi lo không lường của nhiều bệnh nhân đang bị mất việc lại mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, cao máu ... cần được chăm sóc thường xuyên và liên tục. Khoản chi phí ban đầu đó vẫn mới chỉ là khám và định bệnh chưa nói đến chữa trị bằng thuốc đặc trị thì khả năng tài chính của người túng thiếu không thể cáng đáng nổi. Vì thế đi khám bác sĩ trở thành một thứ xa xỉ hơn là một nhu cầu đối với người túng thiếu và nhiều người đã quay sang thuốc bắc hoặc thuốc nam.

Bác sĩ Đặng Phương Trạch có phòng mạch tại San Jose từ tám năm nay nhận xét:
“15 đô la chỉ bằng một lần đi hớt tóc nam thành ra nếu chỉ lấy tiền khám 15 đồng thì không thể nào đủ chi phí cho một phòng mạch, trừ phi mỗi ngày phải khám đến cả trăm người, điều không thể làm được.”
Ông cho biết ngay cả nhân viên phụ giúp phòng mạch cũng phải trả ít nhứt cũng $10/giờ chưa kể thuê mướn mặt bằng và điện nước, bảo hiểm …
“Thường thường lần khám đầu cũng phải 60 đô la và các lần theo rõi kế tiếp khoảng 25-30 đô la; nhưng nếu chuyển sang cho các bác sĩ chuyên môn Mỹ thì số tiền phải trả rất nhiều như khám đường ruột cũng $300 hay khám tim trên $1,000 là chuyện bình thường.”
Ông kết luận “không thể nào sống nổi nếu mở phòng mạch chỉ lấy $15 tiền khám.”
Thống kê của California trong tháng Mười Hai vừa qua cho thấy 40% cư dân Thung Lũng Điện Tử không có bảo hiểm y tế với 73,800 người đang trong tình trạng thất nghiệp tại quận hạt Santa Clara.

Chia xẻ nỗi khó khăn đó của người bệnh, bác sĩ Minh, 30 tuổi tốt nghiệp y khoa năm 1998 trường Albert Einstein ở New York nói rằng phải tìm cách nào giúp đỡ người đang trong hoàn cảnh ngặt nghèo.
“Tất cả chúng ta đã có cơ hội đi học tới nơi tới chốn và thành người thì tôi nghĩ phải đáp trả và đóng góp lại cho cộng đồng cái thành quả học vấn của mình,” bác sĩ Minh tâm sự và cho biết trong quá trình đi học từ trung học lên đại học và trường y khoa nhiều vị y sĩ sau khi ra trường không còn mang cái hoài bão ban đầu nữa.
Thật vậy với khoảng 12 năm trên ghế nhà trường và món nợ ít nhứt cũng từ 170 đến 200,000 đô la để tốt nghiệp y khoa, phần lớn các bác sĩ, nha sĩ sau khi ra trường đều muốn kiếm tiền để trả nợ và làm ... giầu. Điều này được thấy rõ tại các phòng mạch bác sĩ Việt Nam với bệnh nhân ngồi chật phòng đợi và bác sĩ chạy con thoi giữa bệnh viện và phòng mạch tư. Đi ngược lại truyền thống đó, bác sĩ Minh đã thành lập nhóm Blitz và hành nghề y khoa theo một đường hướng mới: cung cấp dịch vụ y tế đến tất cả mọi người và không bị ràng buộc bởi bảo hiểm.

Vượt biên đến Mỹ năm 1979 lúc mới 6 tuổi, Lê Văn Minh cùng với mẹ và các em đều phải sống nương tựa vào trợ cấp xã hội và bảo hiểm Medi-Cal dành cho người có lợi tức thấp. Từ kinh nghiệm thời niên thiếu đó anh nhận thấy rằng bảo hiểm y tế rẻ tiền là điều bức thiết và hết sức quan trọng để từ đó anh nuôi mộng làm được điều gì mới mẻ và có ích cho người nghèo khó.
“Giúp đỡ người là ưu tư lớn nhứt suốt cuộc đời tôi,” anh thổ lộ và nói tiếp rằng giờ đây khi ra trường rồi, hoàn tất xong bốn năm nội trú ở Pennsylvania và tại bệnh viện Kaiser Permanente ở Santa Clara, anh muốn mang khả năng học vấn của anh công hiến cho cộng đồng.
“Phần lớn sau khi ra trường các bác sĩ chúng tôi hoặc xin làm việc cho một bệnh viện hay mở phòng mạch tư và kiếm nhiều tiền để có một cuộc sống phú túc, nhưng sự giúp đỡ đó chỉ có nếu bệnh nhân có bảo hiểm hay có thể trả nổi tiền mặt cho bác sĩ.” Và anh nói tiếp, “Bảo hiểm sức khỏe hoàn toàn trói chặt tay lương y.”
Ngay từ đầu, sáng kiến mở phòng mạch tư và chỉ lấy 15 đô la cho mỗi lần khám không được mọi người hoan nghênh:
“Biết bao nhiêu người đã chỉ trích, hoài nghi, thậm chí cả chê bai và nói rằng không thể sống nổi với số tiền 15 đô la thu của bệnh nhân,” bác sĩ Minh kể lại thời gian mấy tháng đầu anh đã phải nghe những tiếng nói chống lại lối làm việc của Blitz.
Nhưng tính đến nay hơn bảy tháng trôi qua, từ  không có bệnh nhân nào giờ đây có trên 500 bệnh nhân trong đó đến 25% là người gốc Việt, phần còn lại là người Phi, Ấn Độ, Hoa kể cả người da trắng đã đến với Blitz.

Tại phòng mạch của nhóm Blitz, người ta không thấy đủ loại báo chí Việt ngữ như thường thấy tại các phòng mạch khác và anh giải thích:
“Chúng tôi chỉ đủ trả tiền thuê mướn văn phòng và chi phí điện, nước, dụng cụ y khoa, đâu có dư để đăng quảng cáo. Blitz chỉ nhờ vào lời đồn miệng của cộng đồng.”
Bà Huỳnh Thị Khánh và chồng bị thất nghiệp từ một năm nay và cả hai đều bị bệnh cao máu.
“Tôi được người bạn giới thiệu đến bác sĩ Minh; 15 đồng để khám bệnh, tôi nghĩ không có bác sĩ nào lấy giá đó. Trong lúc thất nghiệp nhiều như vầy mà có người tốt như bác sĩ Minh cũng mừng cho cộng đồng,” bà Khánh nói với Việt Mercury.
Bà cho biết đã giới thiệu cho nhiều người khác cũng trong hoàn cảnh không có bảo hiểm sức khỏe.
Bác sĩ Rich Buxton, thuộc trường y UC Davis phát biểu:
“Rõ ràng là với số tiền 15 đô la thì không thể nào trang trải nổi cho một phòng khám tư nhưng khi làm như vậy bác sĩ Minh không còn bị áp lực của đồng tiền mà chỉ nhắm vào mục tiêu nhân đạo giúp đỡ bệnh nhân. Ông ta phải kiếm sống bằng một việc làm khác để bù đắp cho chi phí điều hành phòng mạch của ông ta.”

Quả vậy, ngoài giờ làm việc tại phòng mạch anh Minh còn hợp tác với bệnh viện Kaiser Permanente làm cuối tuần và hợp tác với các bạn trẻ trong các dịch vụ khác như bán bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ và cố vấn kế hoạch tài chính cho các cơ sở thương mại. Ngoài ra anh còn mở thêm các lớp chỉ dẫn phương pháp dinh dưỡng tránh béo phì và xuống cân để tăng thêm lợi tức quá khiêm nhường của phòng mạch.
“Lúc đầu rất là khó khăn nhưng nay đã được bảy tháng và mọi việc dường như trôi chảy hơn, vấn đề không phải là bệnh nhân quay trở lại mà chính yếu là tôi có thể chăm sóc bệnh nhân bị tiểu đường, cao máu hay những bệnh khác cần sự theo rõi liên tục của người chuyên môn.”
Đường lối hoạt động của Blitz cũng giúp cho những thương nghiệp nhỏ không đủ khả năng mua bảo hiểm y tế có chỗ dựa an toàn khi cần.
“Tôi chỉ mua bảo hiểm y tế cho các cháu nhỏ còn vợ chồng tôi thì khi nào bệnh mới đi bác sĩ và 15 đô một lần khám là điều rất tiện cho những người làm ăn nhỏ như tôi,” ông Thanh, làm nghề cắt cỏ vùng phía bắc San Jose cho biết.

Trong lúc làm được việc tốt giúp ích cộng đồng, bác sĩ Minh cũng có một cuộc sống giản dị và khiêm tốn. Tuy chạy một chiếc xe đời 90, ở nhà thuê tại vùng phía nam San Jose nhưng niềm vui của anh thì vô cùng.
“Chia xẻ được nỗi đau bệnh tật của mọi người là niềm hãnh diện của tôi. Bệnh nhân đến với Blitz và biết sẽ chỉ trả một lệ phí thấp thì khi ra về có thể cơn bệnh cũng giảm một phần nào rồi,” anh chia xẻ suy nghĩ về nghề thầy thuốc với lời thề với Hypocrate khi ra trường phải làm tất cả vì bệnh nhân.
Bà Vũ Thứ Cẩm, 54 mẹ ruột cảa người con trưởng là bác sĩ Minh chia xẻ:
“Tôi khuyên cháu ngay từ lúc mới bắt đầu theo học ngành y rằng nếu có học thì hãy học để giúp người chứ đừng đề làm giàu. Tôi cũng chỉ khuyến khích vậy thôi chứ Minh tự vay mượn và học thành tài chứ gia đình không đủ khả năng tài chánh giúp cho Minh.”
Ngay chính bà Cẩm đã là tấm gương để bốn người con noi theo khi bản thân bà đã theo học tại trường San Jose State để hoàn thành văn bằng kế toán trong lúc vừa phải lo cho gia đình vừa phải kiếm sống.
Bước đi kế tiếp của nhóm Blitz Medical Group là mở rộng tầm hoạt động để bao gồm cả răng và những dịch vụ y tế khác đồng thời đón nhận nhiều bệnh nhân hơn.
“Đó cũng là ước mơ nhỏ khác của bản thân tôi,” anh nói.

                        Bài viết được đăng trên Viet Mercury số 216 ngày 14 tháng Ba, 2003


Friday, May 20, 2016

Nỗi Đau Khốn Cùng

Đức Hà

Hai mươi năm chiến tranh Vietnam (1955 - 1975) đã để lại nhiều bức ảnh để đời; đặc biệt có bốn bức đoạt giải Pulitzer. Cả bốn đều diễn ta cái chết, cả bốn đều làm rúng động thế giới về nỗi kinh hoàng của chiến tranh - từ cái chết thể xác đến cái chết tâm hồn.

“American Soldiers Dragging Viet Cong,” xác một bộ đội Bắc Việt hay có thể là một du kích quân, chân đất quần xà lỏn mặt úp xuống đất được quân Mỹ cột giây kéo lê đến mồ chôn phía sau chiếc thiết vận xa M113 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ. Lời chú thích của hình ghi là "a Viet Cong soldier" - không tên, không tuổi, chỉ ghi vắn tắt anh ta là một trong nhiều người chết trong trận đụng độ ác liệt giữa quân Úc, Mỹ và quân Giải Phóng tại Long Tân, Núi Đất, Vũng Tàu. Wikipedia trích lời một cựu chiến binh Quân Giải Phóng cho hay Trung Đoàn 275 thuộc Quân Giải Phóng là đơn vị giao tranh trong khu rừng cao-su gần xã Long Tân ngày 19 tháng Tám, năm 1966. Phe chống chiến tranh gọi bức ảnh là một thí dụ về sự tàn bạo của con người và biện minh rằng Mỹ phải rút khỏi Việt Nam.
Tác giả: nhiếp ảnh gia Nhật Kyōichi Sawada của hãng thông tấn UPI.

Bức thứ hai "Saigon Execution" của Eddie Adams chụp trong lúc đang diễn tiến cuộc tổng công kích Mậu Thân ngày 1 tháng Hai, 1968. Đại úy đặc công Nguyễn Văn Lém bị bắt sau khi cầm đầu nhóm quân cảm tử tấn công vào nhân viên cảnh sát gần khu vực Chùa Ấn Quang, Chợ Lớn. Lém bị bắt giữ gần mồ chôn tập thể bảy cảnh sát Saigon cùng với gia đình, tổng cộng 34 xác chết. Khi Lém được đưa đến trình diện Tướng Nguyễn Ngọc Loan, ông này móc khẩu P 38 kết thúc luôn mạng sống của tay đặc công. Eddie Adams đứng gần đó và ghi vào phim nhựa giây phút có một không hai này. Ông Adams kể lại: "Vị tướng bước lại gần tôi và nói 'Tay nay giết hại nhiều nhân viên của tôi, và kể cả của ông nữa,' rồi bỏ đi.

Bức "The Napalm Girl" của Huỳnh Công Út ra đời năm 1972. Lúc đó Phan Thị Kim Phúc được chín tuổi. Kim Phúc bỏ chạy khỏi ngồi làng bị bom phá hủy ở Trảng Bàng. Ngôi làng bị Cộng quân tràn ngập và chiếm đóng. Dân làng bỏ chạy - trong đó có Kim Phúc, phi cơ lầm tưởng là quân địch nhào xuống thả bom tiếp. Kim Phúc hốt hoảng hãi sợ trốn chạy trên đường lộ, quần áo cháy xém không còn mảnh nào che thân và cháy khắp cả da thịt. Nick Ut ghi nhận được bức ảnh đó ngày 08 tháng Sáu, 1972.

Hai đặc công trong ảnh của Sawada và Adams chắc chắn đã được phong liệt sĩ và được chế độ mới ghi công tưởng thưởng. Phan Thị Kim Phúc hiện sống yên ổn cùng gia đình ở Ontario, Canada; vết bỏng trên da cũng đã lành sau nhiều lần chữa chạy. Cho dù nhìn từ góc độ nào, đó cũng là nỗi buồn của chiến tranh, nỗi đau của đổ máu, của mất mát, của người Việt giết hại lẫn nhau. Bức ảnh thứ tư đoạt giải Pulitzer được chụp tại nước Mỹ thanh bình, không có cảnh chết, không đổ máu, mới xem những tưởng là nỗi vui tràn đầy - nhưng bên trong lại chứa đựng những nỗi đau khốn cùng về lòng dạ con người.

"Burst of Joy"
Burst Of Joy by Slava "Sal" Veder

Đó là câu chuyện của Trung Tá Không Quân Hoa Kỳ Robert L. Stirm. Có thể nói chuyện rất giống với hoàn cảnh của nhiều gia đình Việt khi chồng đi tù cải tạo sau 1975, vợ ở nhà - vì duyên cớ gì đó lại lập gia đình với bên thắng cuộc hay mang con vượt biên để rồi cũng sang ngang ở nước ngoài. Người chồng, người cha đi tù trở về với hai bàn tay trắng - không chỉ phải đương đầu với xã hội mới, chế độ mới mà luôn cả với sự ngỡ ngàng hụt hẫng khi gặp lại vợ và con hay chẳng bao giờ gặp được ai nữa.
Hoàn cảnh phi công F-105 Stirm chẳng khác. Trong một phi vụ bỏ bom ở bắc Việt Nam ông bị bắn rơi năm 1967. Sau gần sáu năm tù đầy, tra khảo, đói khổ, bệnh tật trong nhà lao khét tiếng Hanoi Hilton, ông được trao trả vào tháng Ba 1973. Còn gì vui sướng bằng được trở về Mỹ, được đoàn tụ với gia đình thân quyến gồm vợ và bốn con.
Phóng viên ảnh Slava "Sal" Veder của hãng tin AP có mặt từ sớm tại sân bay Travis AFB để làm phóng sự hình về chuyến trở về của 20 tù binh Mỹ bị giam giữ ở Hà Nội. Bức ảnh trắng đen "Burst of Joy" chụp đúng lúc cả gia đình ông Stirm, nụ cười rạng rỡ, vòng tay mở rộng chạy như bay về phía người cha, người chồng vừa thoát cảnh ngục tù Việt Nam. Với bốn người con của Trung Tá Stirm, ngày 17 tháng Ba, 1973 là ngày giấc mơ thành hiện thực hay nói một cách tôn giáo là lời cầu nguyện đã được Ơn Trên đáp lời.
Chiến tranh kết thúc. Gia đình đoàn tụ. Hạnh phúc tràn đầy.

Sự thật không phải vậy. Trả lời phỏng vấn của nhiều phóng viên, cựu Đại Tá Robert Stirm cay đắng: "Tôi được tác giả gởi tặng nhiều phiên bản của bức ảnh đó, nhưng không treo tấm nào trong nhà."
Ông Stirm, nghỉ hưu với cấp bậc Đại Tá năm 1977, hiện ở Foster City, California chỉ tay vào người phụ nữ trong hình nói: "Vì người này."
Cũng như Thượng Nghị Sĩ John McCain - một tù binh tại khám Hỏa Lò Hà Nội, ông Stirm không mấy oán giận hay căm thù những cai tù từng tra tấn, hành hạ, bỏ đói ông trong thời gian bị bắt giữ mà ông lại cay đắng với người từng là một nửa kia của ông - mẹ của bốn con.
Thật ra ngay từ khi còn ở Phillipines để làm thủ tục trước khi về Mỹ, vị mục sư tuyên úy có chuyển cho ông bức thư dạng "Dear John*" ký tên Loretta Stirm, vợ ông.
Thư viết:

"Em đã thay đổi nhiều lắm - em bị đưa đẩy vào một hoàn cảnh mà cuối cùng em phải quyết định. Anh Bob, em yêu anh - cả nhà đều yêu thương anh nhưng em tin rằng tự đáy lòng anh biết rằng chúng mình không thể kết hợp lại như xưa được nữa - và rất vô lý khi lại phải chịu đựng sự bất hạnh khi anh có thể có chọn lựa khác. Cuộc đời vốn ngắn ngủi phải không anh. Chúng mình hoàn toàn không hạp tính nhau, không nên làm khổ nhau thêm nữa. Em rất muốn gặp khi anh trở về - nhưng em sẽ thông cảm nếu anh không muốn như thế."

Người ta không hiểu bà Loretta có mặt tại sân bay vào thời điểm đó để làm gì, để cũng (đóng kịch) cười cũng rạng rỡ như bao người vợ đón mừng chồng trở về từ ngục tù tăm tối, trong khi bà đã ở với người đàn ông khác. Sự thật thì chỉ một năm hơn sau khi bặt tin chồng (lúc đó không biết Trung Tá Stirm bị bắn rơi và bị bắt làm tù binh hay chết khi trúng đạn phòng không địch), bà Loretta đã bỏ bê gia đình nhưng lại không thật thà khai báo với bốn con. Ông Stirm cho hay bà ấy từng nhận lời cầu hôn của ba người khác nhau trong lúc ông ngồi tù:
"Bức ảnh không nói lên sự thật phũ phàng tiềm ẩn phía sau." - thế nên tác giá mới đặt tên là 'Burst of Joy - Niềm Vui Chan Hòa' khi cả năm mẹ con đều cho thấy vẻ mặt hạnh phúc cùng cực khi được gặp lại người xưa.
Vợ chồng họ Stirm nạp đơn ly dị một năm sau khi ông được hồi hương. Cả hai đều lập gia đình riêng sáu tháng sau đó. Tòa quyết định hai người con đầu - Lorrie và Robert về ở với cha, hai người con sau - Roger và Cindy ở với mẹ. Người vợ được hưởng nguyên căn nhà và gần nửa tiền hưu của chồng - cho dù quan tòa xác nhận có nhiều bằng chứng cho thấy người vợ có những hành vi không xứng đáng khi chồng còn ở trong tù.

Với nhiều người Việt đi tù cải tạo, cũng như cựu Đại Tá Stirm nằm tù Hỏa Lò, gia đình là niềm tin yêu và hy vọng cuối cùng cũng như trên hết để phấn đấu qua mọi thử thách gian nan hầu có ngày được gặp lại người thân. Với người này chiến tranh chấm dứt có nghĩa là đoàn tụ, xum họp và hàn gắn; với người không may, có thể vì nghiệp chướng hay số phận những đau khổ trong chiến tranh cũng vẫn tiếp tục khổ đau trong hòa bình - không phải ai cũng được hưởng niềm vui chan hòa.


*"Dear John letter" là dạng thư của người vợ hay người yêu ở hậu phương gởi cho chồng hay bạn trai đang ở chiến trường báo tin tình của đôi ta chỉ thế thôi, phần lớn có nghĩa người ở lại đã có tình mới.

Friday, April 29, 2016

Phát Động Chiến Dịch AIM–B

Đức Hà

Sáu năm sau khi phát hiện bị viêm gan siêu-vi B vào năm 1990, ông Lâm Toàn, 67 tuổi, đã được các bác sĩ khuyến cáo phải chuẩn bị để về thế giới bên kia nếu không thay được gan. Năm 1996 ông Toàn nằm trong danh sách của những người đợi thay gan của toàn quốc Hoa Kỳ.
“Bác sĩ đề nghị cắt 2/3 lá gan, tôi không chịu, vì sau khi được chích thuốc tôi cảm thấy khỏe hơn, ăn uống bình thường kể cả chơi thể thao,” ông Toàn kể lại với đề nghị được đổi tên vì những chi tiết bệnh lý cá nhân.
Ông cho biết lúc đầu mắt trở nên vàng, toàn thân mệt mỏi, về chiều thì cảm thấy ớn ớn lạnh, buồn nôn và biếng ăn; sau đó bác sĩ cho uống loại thuốc Lamivudine thì tình hình cải thiện, thành ra ông không muốn giải phẫu cắt gan. Nhưng theo lời các bác sĩ của trung tâm gan bệnh viện Stanford cho biết thì đó là một “cái cây đang héo từ từ và chờ chết.”
Cơ may đến với ông Toàn vào ngày 7 tháng Tư năm 2004 khi ông được tin đã có gan và phải thực hiện ca mổ ngay.
“Một tuần sau tôi xuất viện, lúc đầu phải tái khám tuần một lần, rồi tháng một lần, rồi nửa năm một lần, giờ đây đã bình phục hoàn toàn, và cả lên cân,” ông kể lại, giọng nói phấn chấn lạc quan. 
CDC.gov infographic


Ông Toàn là một trong số 12 triệu người Mỹ bị nhiễm vi-rút Hepatitis loại B, với hơn 1 triệu người bị viêm gan mãn tính và khoảng 6,000 người chết mỗi năm do biến chứng của gan, thống kê của cơ quan kiểm soát dịch bệnh CDC bang Atlanta cho biết.
Do tầm nguy hiểm, dễ lây nhiễm qua đường huyết nếu không cẩn trọng, và có triệu chứng bình thường khiến nhiều người lầm tưởng là bệnh cảm cúm, Hiệp Hội Hepatitis B (www.hepb.org) và công ty dược phẩm Bristol-Myers Squibb (www.bms.com) đã phát động chiến dịch “AIM for the B” (Awareness, Involvement and Mobilization for Chronic Hepatitis B) khắp Hoa Kỳ trong mục đích giáo dục và nhắc nhở mọi người, nhứt là người gốc Á về bệnh viêm gan B. Trong cùng lúc Thượng Viện Hoa Kỳ cũng ban hành nghị quyết SR-117 xác định tuần lễ đầu tháng Năm vừa qua là tuần lễ lưu ý bệnh gan B “National Hepatitis B Awareness Week.” Ngoài ra trung tâm ung thư trường UC Davis cũng được tài trợ một ngân khoản gần 4 triệu rưỡi để nghiên cứu giảm tỉ lệ tử vong về ung thư các loại nơi người gốc Á tại Hoa Kỳ.
“Thống kê chính xác về bệnh viêm gan loại B cho thấy 13% tổng dân số người Việt ở trong nước bị viêm gan mãn tính, đứng đầu thế giới trong đó 90% đã bị nhiễm bệnh và lành bệnh, do đó người Việt nên đặc biệt quan tâm đến căn bệnh này,” bác sĩ Trịnh Ngọc Huy, chuyên khoa bệnh tiêu hóa và gan ở San Jose cho biết.
Ông khuyến cáo nếu sinh đẻ tại Việt Nam, trong gia đình có người ung thư gan, có giao du tình dục không bảo vệ hoặc chích ma túy thì phải yêu cầu bác sĩ gia đình đi thư máu truy tầm siêu vi B càng sớm càng tốt.
“Đây là căn bệnh thầm lặng gây chết người và kéo dài từ 30 đến 40 năm cho đến khi trở nên trầm trọng thì không thể cứu vãn được nữa.”

Điều đáng mừng là hiện nay đã có ba loại thuốc uống và một loại thuốc chích có khả năng ngăn chận sự phát triển siêu vi B trong gan do đó theo lời bác sĩ Huy “siêu vi B không tàn phá gan, không tạo ra những vết thẹo chai gan, và có thể đưa từ giai đoạn nặng trở về giai đoạn nhẹ hơn và theo một số quan điểm có thể làm giảm thời gian dắt đến ung thư gan.”
Khi hỏi ông Lê Toàn rằng sau khi được thay gan, bác sĩ có cho biết tuổi thọ kéo dài thêm được bao nhiên lâu nữa, và được ông trả lời:
“Tôi không dám hỏi.”
Ông cho biết hồi còn ở Việt Nam mỗi lần bệnh hay nhờ y tá chích nên có thể bị nhiễm vi-rút B do kim chích không được tiệt trùng mà không biết.
Phát biểu nhân ngày phát động chiến dịch AIM–B tại Santa Clara, ông Molli Conti, phó chủ tịch Hepatitis B Foundation cho biết:
“Chúng tôi rất cám ơn Hội Đồng Giám Sát Quận Hạt Santa Clara và thành phố San Jose đã đặt ưu tiên hàng đầu về việc truy tầm bệnh gan B. Không đầy 30% những người bị nhiễm B chỉ cảm thấy như bị cúm nhẹ và bỏ qua, do đó tỉ lệ người bị nhiễm B và được chữa trị đúng mức rất thấp. Chúng tôi đề ra chương trình AIM-B nhằm giáo dục mọi người và khuyến khích đi thử máu để biết rằng nếu bị nhiễm thì phải được chữa trị đúng mức.”
Thống kê cho thấy trong số những bệnh nhân bị viêm gan mãn tính tại Hoa Kỳ, hơn phân nửa là người gốc Á và về tỉ lệ tử vong của người gốc Á cũng chiếm phân nửa so với các sắc dân khác.Tính toàn cầu cứ 10 người Châu Á - Thái Bình Dương lại có một người sống chung với Hepatitis B mãn tính.


Xem thêm chi tiết tại Hội Nghiên Cứu Gan Hoa Kỳ www.liverfoundation.org hoặc Trung Tâm Gan trường Stanford www.livercancer.standford.edu

                                                Bài viết được đăng trên Viet Mercury số 338 12/14/2005

Saturday, April 23, 2016

Ghé Bến Thượng Hải

Đức Hà

Long ban long lau
Maan lei tou tou gong seoi wing bat jau
Tou zeon liu sai gaan si
Wan zok tou tou jat pin ciu lau ...

PUDONG, Thượng Hải - Nhạc khúc nổi tiếng "Bến Thượng Hải" xuất hiện từ thập niên 80' mãi đến nay tôi mới có dịp ghé Thượng Hải tham quan cho biết sự tình - nói rõ hơn là chỉ quá cảnh Pudong, sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải nguyên gốc viết như sau: 上海浦东国际机场. Cũng chưa có dịp ra đến bến của thành phố khổng lồ hơn 24 triệu dân nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Nếu tính thêm vùng phụ cận con số lên đến 34 triệu hơn. Thế nhưng vẫn có thể ba điều bốn chuyện về Thượng Hải tuy chỉ ngồi phòng đợi ở Pudong hoành tráng và ấn tượng. Thú thật nếu có cho xuống phố chơi thì cũng "Bù, xièxiè - no thank you" bởi vì downtown Thượng Hải có mức độ không khí ô nhiễm hàng đầu Trung Quốc ngang ngửa Bắc Kinh, Thiên Tân ... khói than nhà máy nhiệt điện, khói xe hơi, khói thuốc lá và đủ các loại khói và hơi khác nữa thì thà ngồi sân bay ít ra không khí cũng đã được lọc bớt cặn.


Sân Bay Quốc Tế Shanghai Pudong 
 Thuốc Lá

Không biết thủa xưa người Hoa, người Thượng Hải hút thuốc mức độ nào chứ hiện nay thì ai ai đều hút, mọi người cùng hút. Hình như vậy. Nhưng làm thế nào để mồi thuốc khi tất cả các kiểu quẹt ga hay xăng đều bị tịch thu ngay ở khâu kiểm soát an ninh sân bay - điều mà ở Mỹ TSA đã cho phép. Đảng và Nhà Nước TQ đã lo toan đầy đủ nhằm phục vụ phúc lợi cho nhân dân: ngay tại khu hút thuốc tự do đã để sẵn một loạt mấy kiểu hộp quẹt. Quẹt được cột chặt vào đế giống như mấy cây viết tại ngân hàng vậy. Tha hồ quẹt, tha hồ mồi thuốc nhưng không thể có bàn tay nhám nào cầm nhầm được. Tôi thấy cả ông lẫn bà, trẻ lẫn già, quần áo rất thời thượng à la Shanghai, ngồi phì phèo trong phòng kiếng mịt mùng khói thuốc. Họ cần phải rít nhiều hơi, ém đầy hai lá phổi trước khi lên máy bay chịu trận nhiều tiếng đồng hồ. Điều này cũng đúng thôi khi TQ sản xuất hơn 42% thuốc lá toàn thế giới với 350 triệu người ghiền thuốc - con số đông nhứt thế giới ghi nhận năm 2010 của Wikipedia. Tính bình quân toàn cầu cứ ba điếu thuốc được mồi lên thì có một điếu trên môi (thâm xì) người Hoa. Đã hút thì phải chết, trước sau gì cũng về với Ông Bà tổ tiên: hàng năm có một triệu người Hoa chết vì thuốc lá, thêm vào đó khoảng một trăm ngàn chết vì hít khói sái nhì. So với tổng dân số 1.357 tỉ thì chả sứt mẻ bao nhiêu.
Cơ quan Y Tế Quốc Tế - WHO ước tính với đà tiến nhanh như vậy thì vào năm 2050 sẽ có 3 triệu người chết mỗi năm nếu không có biện pháp chấn chỉnh ngay bây giờ. Chỉnh làm sao được khi nhà máy thuốc lá đều nằm trong hệ thống công ty quốc doanh - mà đã quốc doanh thì chủ chỉ có thể là nhà nước.

Trung Hoa vĩ đại, có nền kinh tế nhất nhì thế giới cũng nổi tiếng về hàng nhái, hàng giả, hàng lậu. Malboro xanh, đỏ, trắng cũng là nạn nhân thê thảm của cường quốc này.
Theo trang web Organized Crime and Corruption Reporting Project - OCCRP, trung tâm phối hợp các chương trình điều tra các vụ tham ô và tổ chức tội phạm toàn cầu đã gọi TQ là trùm quốc tế sản xuất thuốc lá giả. Hàng trăm nhà máy thuốc lá trong vùng Vân Tiêu, phía nam Phúc Kiến có khả năng đưa ra thị trường 400 tỉ điếu mỗi năm, đủ để cung cấp cho dân ghiền ở Mỹ hàng năm mỗi người 460 gói. Thuốc lá thật Made in USA vốn đã độc hại, thuốc giả lại còn độc hại gấp bội lần, nhưng con buôn không thể không chuyển hàng tấn bao thuốc giả đi khắp thế giới từ Châu Mỹ đến Châu Âu vì lợi nhuận quá sức béo bở. Giá vốn ở TQ theo nhà báo Te-Ping Chen của OCCRP chỉ không tới 20 cents gói sang đến Mỹ trở thành từ 5 đến 13 đô tùy bang. Hãng Phillip Morris International ở Virginia cho biết TQ sản xuất đến 60 loại bao bì Malboro khác nhau cho mỗi nước, từ tem thuế giả đến nhãn hiệu giả. Đại khái là bao bì được thực hiện theo yêu cầu của mỗi địa phương theo đúng tôn chỉ khách hàng là vua. Thuốc lá giả có đến 80% nhiều nicotine hơn, 130% carbon monoxide hơn, chưa kể vô số tạp chất như phân chim, phân người ... hít vào cực khoái nhưng sớm muộn cũng "Nay mai về với Ông Bà, Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân."

Nhẩm Xà

Bên trong sân bay Pudong, từ khu chịu thuế đến khu miễn thuế - tức là qua khỏi khu kiểm soát an ninh, chỗ nào cũng có cửa hàng trà. Cửa hàng chong đèn sáng rực, trà bày tầng tầng lớp lớp hoa cả mắt, nhiều vô số kể, đủ kiểu bao bì, đủ dạng đủ màu sắc. Không chỉ trà rời, trà bột, trà lá, trà cọng, trà viên, trà gói mà cả trà kẹo, trà ngậm, trà nhai, trà bánh ... tất cả đều in chữ Hán, có Trời hiểu họ biên cái gì, ướp chất gì.
Điều cũng dễ hiểu bởi người Trung Quốc có tập quán lâu đời là “Ăn xong uống một tách trà,” cho nên trà có nguồn gốc văn hóa và lịch sử lâu đời ở đất nước này. Nghe đâu trà có cội nguồn từ Trung Hoa và cũng là cái nôi của văn hóa trà. Thế nên bên hàng ghế phải, bên trái, trước mặt, phía xa xa nơi tôi ngồi, quý vị cao niên, quý đồng chí, quý bà con phú nông công thương ... người nào cũng mang trong ba-lô, sách tay một bình trà nhựa. Nói chung không phải đa số mà phải là tuyệt đại đa số đều "nhẩm xà." Vì bình có nước không qua được máy kiểm soát an ninh nên họ mang bình không, dưới đáy có sẵn trà. Chỉ cần lại máy mở nước sôi đầy bình là có bình trà nhà mang đi. Nếu ai có cơ hội du lịch hay di chuyển bằng phi cơ thì máy uống nước công cộng ở phi trường chỉ có nước lạnh: người khát chỉ cần cúi xuống bấm nút là nước mát lạnh phun thẳng vào miệng hay vào bình chứa.

Shanghai có sự khác biệt. Cũng như phần thuốc lá nói trên, Đảng và Nhà Nước cũng lo không thiếu gì cho nhân dân của họ. Máy làm nước nóng, nước sôi để khắp nơi, cứ đi vài bước lại thấy kê một cái máy tương tự, vậy mà vẫn thấy đông người đứng chờ đến lượt lấy nước. Không thấy họ nối đuôi xếp hàng, nhưng có vẻ trật tự, ai đến trước lấy trước. Trên máy có ghi cách sử dụng bằng Hoa ngữ và Anh ngữ cùng xác nhận là nước được đảm bảo sát trùng 100% và có hai chế độ nước: ấm và sôi. Ai muốn sơi mì tô, mì ly có thể bấm nút cho nước sôi đúng nhiệt độ mình muốn (nhiệt độ điều chỉnh tùy thích) và cho vào mì. Người uống bình thường có thể lấy ly giấy nhỏ để kế bên máy và lấy nước ấm uống. Nếu có người cắc cớ muốn uống nước lạnh thì sao? có lẽ không được vì trên máy chỉ có hai nút: Warm và Hot.
Có bình trà Ô Long nóng nhâm nhi, thèm quá thì bước vào phòng khói làm vào điếu cho đỡ vã rồi ra ghế ngồi tán dóc ... ồn ào như phiên chợ. Hai người chuyện trò cũng đủ ồn, họ lại tụm năm tụm bảy xát phạt thì thử hỏi ồn đến chừng nào. Người Hoa xưa nay vẫn thế, ăn ồn, nói ồn. Húp mì muốn trôi người kế bên, uống ngụm trà xong là đắc chí khà khà muốn bay người đối diện. Nhưng trong bối cảnh vui nhộn, ầm ĩ và sinh động đó cho thấy dường như họ đang hạnh phúc viên mãn, vui với cuộc sống hiện tại. Mà đúng vậy cho dù "Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột," chính sách cải cách và mở cửa tháo gỡ xiềng xích cho kinh tế tư nhân của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đã mang lại giàu sang phú quý cho người dân. Từ nghèo khó vươn tới thịnh vượng - chỉ đứng hàng thứ hai sau Hoa Kỳ, Đảng và Nhà Nước đã mang lại sức sống tuyệt vời cho hàng triệu người dân. Giờ đây họ du lịch khắp thế giới, tiền tiêu như xả rác, kéo nhau đi hàng đoàn, hàng hàng lớp lớp với hướng dẫn viên cầm cờ đỏ đi đầu. Washington DC, New York City tràn ngập du khách Hoa kiều, Las Vegas, Grand Canyon, San Francisco, Thai Lan, Phuket ... đâu đâu cũng thấy họ. Ngay tại các cửa hàng sang trọng Galeries Lafayette, Au Bon Marché, Printemps Haussann ở Paris cũng phải thành lập một đội ngũ nhân viên tiếp thị nói tiếng Hoa để phục vụ Thượng Đế đại gia từ lục địa sang. Thậm chí vì nạn trai thừa gái thiếu ở trong nước, họ cần lấy vợ trẻ đẹp cũng sang Việt Nam - đất nước mà cách nay 38 năm lãnh tụ của họ từng phát biểu "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học."

Chỉ có điều họ chỉ được biết điều gì Đảng cho biết thế nên nếu họ hãnh diện khi chánh quyền quyết tâm bài trừ tham ô qua chiến dịch "đả hổ diệt ruồi" thì cũng chính thành viên trong chánh quyền đó có tên trong hồ sơ Panama Papers vừa được phát hiện - mà họ không hề biết.

Gàobié - 告别 (Chào Tạm Biệt)

Sau gần năm tiếng đồng hồ nằm, ngồi, đi đi lại vật vã tại sân bay Pudong, cuối cùng thì tiếng loa phát từ trần nhà cũng trân trọng "Xin mời quý khách đáp chuyến bay 9858 của Shanghai Airlines ra cổng số ...." Đoàn khách 100% người Hoa lục tục kéo nhau lên ngồi kín chiếc Boeing. Không hiểu họ có than phiền sự chậm trễ của chuyến bay hay không hay là họ quá quen thuộc với tình trạng ban phước này rồi.
Gởi lại lời nhắn cho Thượng Hải bằng phiên bản Việt của Bến Thượng Hải:


Người tình ơi giờ xa rồi
Làm sao ta biết nơi đâu là bến mơ
Còn đâu nữa giấc mơ thuở nào
Người ngày sau sẽ không bao giờ xa nhau.

Sunday, March 20, 2016

Phở Phần Lan


TURKU, Phần Lan - Bài tùy bút viết về Phở khá nổi tiếng của Nguyễn Tuân được ra đời là do một chuyến đi dự hội nghị gì đó ở Helsinki mấy chục năm xưa. Thời Chiến Tranh Lạnh, với truyền thống trung lập, Phần Lan thường được chọn làm nơi tổ chức các hội nghị giữa hai khối trắng, đỏ. Bấy giờ chẳng có người Việt nào lại đến sống ở xứ sở tuy rất đẹp nhưng lạnh lẽo này. Vì các món ăn Phần Lan không hợp khẩu vị, lúc ấy Nguyễn Tuân đứng ở bờ hồ băng tuyết, nghĩ đến một bát phở nghi ngút khói. Thèm nhỏ rãi mà chữ nghĩa tuôn thành bài tùy bút này.
 
Hình NBT 
Mấy chục năm sau, Cộng Sản Bắc Việt “giải phóng” miền Nam. Dân miền Nam bị “phỏng dái” vì các biện pháp “đánh tư sản”, bị lùa đi “Kinh Tế Mới”. Bị lừa vào các trại “Học Tập Cải Tạo” vô thời hạn trong rừng sâu núi thẳm. Thấy được bộ mặt thật của một chế độ tuy ngu muội nhưng quỷ quyệt, bất kể sống chết họ bồng bế nhau xuống những chiếc ghe mỏng manh. Hàng triệu người vượt biên, tấp đến các hòn đảo ở Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Singapore…Nhiều người kẹt rất lâu trong các trại tỵ nạn.

Phần Lan với dân số ít oi chưa đến 5 triệu người, nhưng với truyền thống nhân đạo cũng đã mở vòng tay tiếp nhận khoảng hơn hai ngàn người Việt về định cư ở đất nước này.
Nhờ thế ngày nay bát phở đã có mặt tại Phần Lan.
*
Tôi đi Mỹ mới về Phần Lan được hai ngày.
Trong 6 tuần ở California, tôi đã hăng hái ăn vài chục bát phở cho đã thèm. Những khoanh filet mignon thượng hạng được dùng làm thịt tái, mềm mại như những lời tỏ tình. Những lát vè dòn, vè dầy, nạm, gầu, gân…mới bỏ lên môi đã trôi xuống họng. Nguyên liệu, gia vị, rau cỏ phong phú, mà sạch sẽ. Tất cả đều được kiểm phẩm theo đúng phép vệ sinh để bảo đảm sức khỏe người tiêu thụ.
Xuống Quận Cam vùng Nam Cali, tôi thường ăn phở Nguyễn Huệ ở đường Bolsa của bác Cảnh, anh ruột nhiếp ảnh gia Nguyễn Đức Cung, nấu đúng truyền thống Hà Nội trước 1954. Hoặc phở Quang Trung đường Westminster, Garden Grove có món tái vè dầy xuất sắc. Còn ở San Jose vùng Bắc Cali trước tôi thích nhất tiệm phở Bình của bác Dực. Từng miếng nạm, miếng gầu, sợi phở, rau cỏ đâu ra đó. Bác Dực sửa soạn bát phở với tất cả tâm hồn của một nghệ sĩ. Phở ăn rất ngon, nhưng phải kiên nhẫn lắng nghe bác nói chuyện thơ văn, hay nghe những mẩu chuyện về ca sĩ Sĩ Phú là tiếng hát mà bác yêu mến nhưng đã qua đời.
Từ khi bác Dực nghỉ hưu, có người bạn giới thiệu tiệm phở Pasteur trong khu nhà lồng Lion Plaza, San Jose, tôi thấy cũng ngon. Nhưng trước khi về lại Phần Lan, đến nghe nhạc ở phòng trà Jade Leaf (trước nhà thờ chính tòa San Jose, do nhạc sĩ Lê Huy và ca sĩ Ngọc Diệp làm chủ), tôi ngạc nhiên khi ăn bát phở tại đây. Bát phở này là… hoa lạc giữa rừng gươm! Vì phở được dọn lên trong tiếng nhạc Jazz rộn ràng, đèn mầu nhấp nháy, những đôi chân lả lướt trên sàn…thế mà mùi quế , mùi tiêu, mùi hồi vẫn đủ chỗ bốc lên ngạt ngào xuất sắc. Hỏi mới biết tác giả trước nấu cho phở Công Lý cũ.

*
Hai tuần trước khi tôi rời Cali về Phần Lan, có tin Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông. Ngậm ngùi trước tin buồn của những người quen biết, những người bạn đang lần lượt ra đi và sắp sửa ra đi.

Về đến Phần Lan, mệt mỏi vì chuyến bay dài và thay đổi múi giờ. Đêm thức ngày ngủ, lẫn lộn giữa mộng, thực. Cứ nghĩ mãi đến hình ảnh Họa Sĩ Hà Cẩm Tâm nằm trên giường bệnh tại một Viện Dưỡng Lão ở San Jose. Trong chuyến về Cali lần này, thăm anh ba lần. Lần đầu, thấy anh nằm dài, suy sụp, nhưng vẫn giữ phong độ của một nghệ sĩ yêu vẻ đẹp, yêu sự chân thực, luôn luôn khôi hài cho mọi người vui. Anh nhắm mắt, cười như mếu, nói như nói thầm “Cuộc đời buồn cười quá”. Còn nhớ, đột nhiên anh nhại một câu của Hồ Chí Minh, chỉ đổi đi một chữ “Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Chân lý ấy…LUÔN LUÔN thay đổi”. Lại mỉm cười, bảo “Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta!”. Ngừng, nhắm mắt, nói tiếp “Có thằng nhỏ, nó viết thêm vào một chữ THẤT”. Nhắm mắt. Nhớ ngày xưa anh thường say sưa nói về vẻ đẹp của những bông hoa súng trong lúc chèo thuyền trên sông rạch Đồng Tháp thủa kháng chiến chống Pháp. Lần thứ ba, đến thăm trước hôm về Phần Lan, có chiến sĩ nhẩy dù Nguyễn Thành Út và nha sĩ quân y Bùi Ngọc Tô. Anh Tâm suy sụp hoàn toàn, nằm không nhúc nhích. Anh Tô và tôi bối rối không biết làm gì thì Út đã nhanh nhẹn chà mạnh hai bàn tay rồi xoa lên đầu, lên má, lên cổ anh Tâm. Hình ảnh của người cựu chiến binh với đôi tay thô kệch mà lại dịu dàng xoa bóp người bạn già làm tôi cảm động. Út tìm cái thìa múc loại sữa dinh dưỡng mà Út mang theo, vừa nói vừa dỗ dành rồi đặt thìa sữa lên môi anh Tâm. Đôi môi khẽ động đậy, nuốt muỗng sữa. Được một lúc, cặp mắt hơi mở ra, hỏi “có cam không”. Anh Tô vội bóc miếng cam, vắt nước, đặt vào miệng anh Tâm. Chừng nửa giờ sau, anh thều thào nói được. Còn nhớ một câu anh bảo “Bạn bè mình nhiều người bị Cộng Sản giam giữ, đánh đập, khinh khi, chửi bới. Nằm ở đây là sướng lắm”. Tôi lén chụp vài tấm ảnh vì biết đây sẽ là những tấm ảnh cuối cùng mà tôi chụp người bạn già.

Cũng nhớ lần này xuống quận Cam, hai người bạn học Phan Nhật Nam và Phan Bá Sáu lái xe cho tôi xuống San Diego thăm thầy cựu hiệu trưởng trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Ông hiệu trưởng già nua, cũng là ông thầy dậy Việt Văn từng làm cho chúng tôi biết yêu Chinh Phụ Ngâm và những câu thơ trong truyện Kiều, từng có lần nắm tay tôi trong một lần họp mặt mấy năm trước mà bảo “Sao Trạc hay viết những câu cười cợt làm gì?” Trong một lần khác, thầy nói thẳng “Con phải viết để nhắc cho mọi người rằng chế độ Cộng Sản khốn nạn lắm”. Thầy có một người con trai chết trong tù cải tạo sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Lần này sức khỏe ông thầy đã như ngọn đèn trước gió. Cố nhỏm ngồi dậy. Cặp mắt lòa bỗng chẩy giòng lệ ướt khi Phan Nhật Nam nói lớn “Con đưa Nguyễn Bá Trạc đến thăm thầy đây”.

Trong cuốn lưu bút khi tôi rời Phan Châu Trinh, thầy có viết mấy chữ. Cuốn lưu bút không còn, nhưng những giòng chữ ấy không bao giờ mất trong tâm trí tôi:
“Sao chiếu mạng! Trong muôn vàn chúng ta là một. Một không phải là không. Ngước nhìn bóng ta ở trên trời”. Ký tên “Nguyễn Đăng Ngọc”.

*
Về Phần Lan mới được hai ngày, sáng nay anh Thảo đã điện thoại mời tôi đến nhà ăn phở. Tuy mệt, nhưng biết việc nấu một nồi phở ở Phần Lan không phải là đơn giản, tôi nhận lời. Ở thành phố Turku này, muốn có ít rau ngò rau quế để nấu phở thì phải canh chừng để mua cho được ở một ngôi chợ Á Đông, nhập cảng từ Thái Lan, một tuần chỉ có một lần.
Anh Thảo chỉ cho tôi thấy một cái nồi giữ nhiệt hiệu Stiger của Nhật mà anh mua từ bên Mỹ, bên trong có một cái nồi khác. Bỏ tất cả xương, sườn…vào cái nồi bên trong, đặt lên bếp nấu khoảng nửa giờ, rồi bỏ vào nồi giữ nhiệt. Không cắm điện nhưng sau một đêm, thịt xương đều nhừ, nước rất ngọt, anh Thảo nói.
Tôi lấy cái máy ảnh luôn luôn đem theo, chụp từ cọng rau, đĩa thịt, cái nồi, với bát phở đặt trên bàn. Đây là bát phở Phần Lan. Bát phở mà ông Nguyễn Tuân mơ ước vì không có mà ăn khi đến xứ này. Nhắc Nguyễn Tuân lại nhớ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm, ông ấy có tâm sự rằng “Tôi còn sống được là vì tôi biết sợ”.
Ai mà chẳng sợ? Sợ nên phải chạy trối chết. Đặt hết sinh mạng vợ con, cha mẹ và bản thân lên những con thuyền chỉ đi trên sông, mà tuôn ra giữa đại dương.
Lại nhớ trước hôm rời Cali đến thăm Tường Vũ Anh Thy Vũ Tiến Thủy. Anh ta cũng đang trong tình trạng sức khỏe ngặt nghèo, gần đây có lần bất tỉnh trong phòng tắm đến hơn 7 tiếng đồng hồ. Anh đã bán căn nhà tiền chế ở San Jose để chuẩn bị sang Florida ở với một người cháu. Hôm đến thăm, lúc tôi lên cơn gay gắt nói về những chuyện “Sang, Trọng, Hùng, Dũng” và tình trạng Bắc Thuộc đang xẩy ra thì anh gạt đi mà bảo “Việt Nam chỉ còn là quê hương trong tâm tưởng. Hiện tại không có. Tương lai cũng không có.”

Có lẽ thế. Nên hôm nay với quê hương trong tâm tưởng, chúng tôi ngồi ăn bát phở Phần Lan, miên man nghĩ đến những bát phở CaLi

Tất nhiên là ngon, vì đây là những bát phở của tình nghĩa, bát phở của những người bạn nấu cho nhau ăn. 

Bát phở của những người bỏ nước ra đi vì yêu chuộng tự do, yêu chuộng phẩm giá con người.

NBT 20/3/2016 (ngày sinh nhật DM)


Saturday, March 12, 2016

MIAMI: Vườn Cây Ăn Trái



Đức Hà
Việt Mercury

MIAMI, Fl. – Du khách Việt đến thăm Florida vào mùa hè như hiện nay không thể không chạnh lòng gợi nhớ đến những hình ảnh đầy hoài niệm và bầu không khí cùng hương vị quen thuộc của quê hương Việt Nam. Đó là cảm giác đầu tiên lúc vừa bước ra khỏi sân bay khi hơi nóng hâm hấp thổi tạt vào mặt. Khí hậu nơi đây nóng bức trên 90 và có thể dễ dàng lên đến 100 độ. Trời đứng gió, xế chiều bỗng dưng phủ mây xám rồi mưa rào xối xả mươi phút và tạnh, rồi lại tiếp tục nóng “chảy mỡ” như người Việt thường nói. Nhưng nếu khách có cơ hội dong duổi lang thang trên xa lộ dài vô tận của Florida xuốt từ Jacksonville, qua đến Orlando, rồi Fort Lauderdale, Miami cho đến tận cùng mũi Key West, thì hình ảnh tuyệt đẹp của những hàng cây phượng đỏ rực hoa càng làm cho màu xanh cây lá của vùng này thêm nổi bật và cũng làm cho khách thêm nhung nhớ đến thành phố biển nào đó của quê nhà. Khí hậu bán nhiệt đới của tiểu bang rực nắng “The Sunshine State” hệt Việt Nam với độ ẩm thấp cao làm mồ hôi ướt đẫm từ áo trong ra đến áo ngoài của khách du lịch.


Khí hậu hai mùa nắng mưa và nóng của Florida thích hợp cho trái cây nhiệt đới đủ loại, đủ giống, mùa nào thức nấy, thơm ngon như trái cây chợ Bến Thành. Thời tiết quá thuận lợi khiến một người Việt tên Nguyễn Chính, một cựu nhảy dù đã đặt câu hỏi “tại sao không thử trồng cây ăn trái Việt Nam?” khi đến định cư tại Hoa Kỳ cách nay gần 30 năm.
“Tôi không ngờ từ một lính tác chiến của Pháo Binh Dù nay lại trở thành một nhà nông chuyên nghiệp tại xứ Mỹ,” anh Chính tâm sự từ lô đất hai mẫu hơn trị giá lúc mua không đầy 200 ngàn mà hiện nay lên đến trên 1 triệu đô, nằm cách trung tâm Miami khoảng nửa tiếng lái xe về phía nam.

Khi đến định cư tại Hoa Kỳ, người Việt đã phải bươn chải nhiều nghề khác nhau để mưu sinh, có người học thi lấy bằng và tiếp tục nghề cũ từng làm tại Việt Nam nhưng phần lớn đều đổi nghề và không ít người đã thành công không kém người Mỹ bản xứ.
Tuy nhiên Nguyễn Chính, năm nay 52 tuổi không nhận là đã “thành công” trong ngành nông.
“Tôi chỉ gặp may, làm thử và ăn thiệt,” anh nói xuê xòa, bình dị của người nông dân Nam bộ. Nói vậy nhưng hiện nay anh làm chủ đến 80 mẫu trị giá từ 40 ngàn đến 60 ngàn đô/mẫu tùy địa điểm, tùy hoa mầu đang trồng.
Thật ra mãi đến 1989 anh Chính mới bắt tay vào nghề trồng trọt sau khi hãng đóng tầu ở New Orleans giảm nhân viên.
“Hồi mới sang chỗ nào mướn thì xin vô làm và học hỏi chứ tui có biết gì nghề đóng tầu đâu, rồi từng bước từ thợ lên cai sau đó tui chuyển sang làm theo hợp đồng cho đến khi họ giảm người thì tui nghỉ việc.”
Chính trong thời gian này, nhảy dù Nguyễn Chính, dáng người vạm vỡ, cao 6 feet (1,8 mét) và nặng 220 pounds, mới nhìn trông có vẻ “ngầu” nhưng giọng nói lại nhỏ nhẹ thân thiện đã tham quan vùng nam Florida và nảy ra ý định mua rau cung cấp cho vùng New Orleans, Alabama and Houston, Texas vì nhu cầu cao của cư dân ở đó.
Nhiều năm liên tiếp sau đó anh cùng với một người bạn lái xe truck chạy xuyên bang đi buôn rau trái Florida.

Mua Đất Trồng Rau

Lái xe đường trường mãi cũng mỏi mệt,Nguyễn Chính bèn tính đến chuyện tự trồng. Năm mẫu đầu tiên, anh chủ yếu chỉ trồng húng quế và rau thơm. “Làm nhanh ăn gọn,” anh nói.
Rồi mua thêm đất, trồng thêm rau, và mua nhà, nhận Miami làm quê hương thứ hai cho đến khi bão Andrew đổ xuống Florida năm 1992 thì sự nghiệp ban đầu của anh bỗng dưng của thiên trả địa. Từ tay trắng anh trở thành trắng tay. Được chính phủ đền bù một số tiền, Nguyễn Chính lại đầu tư vào đất vườn, say mê với công tác trồng trọt. Chỉ vào khu vườn phía sau nhà, anh tâm sự:
“Khu đất này nguyên thủy là đất trồng trái bơ, mà diện tích quá nhỏ hơn hai mẫu huê lợi không nhiều nên tôi phá bỏ và trồng cây ăn trái nhiệt đới.”
Không chỉ trồng mít, anh còn trồng mảng cầu Xiêm, mảng cầu ta, nhãn, táo Thái Lan, vú sữa, xoài, thanh long, mận, sa-bô-chê, trái vải kể cả một cây chầm ruột mà anh nói là “chua thấu trời xanh” làm kiểng.

“Có loại tôi trồng vài chục cây bán lấy hoa lợi, có loại chỉ trồng vài cây collection cho vui nhờ vậy mùa nào cũng có trái cây tươi cho cả nhà ăn.”
Anh lập gia đình với một phụ nữ Thái tên Sopia Nguyễn và có hai con trai 7 và 8 tuổi. Anh kể:
“Hồi xưa lúc còn trong lính tôi chỉ ham chơi, mua vui trong chiến tranh, rảnh rỗi thì nhậu nhẹt cà phê thuốc lá nên không lập gia đình. Với lại sống chết không biết ngày nào nên cũng không muốn lấy vợ.”
Nhưng đến khi sang Mỹ muốn lập gia đình lại không được.
“Một người đàn ông không họ hàng không bà con thân thiết thì người ta cũng rất ngại ngùng trao thân gởi phận,” anh kể, nhẹ nhàng như cơn gió thoảng, nhẹ nhàng như anh bỏ thuốc từ 30 năm nay.

Ký Ức Chiến Tranh

Quần quật một nắng hai xương, hai mùa mưa gió và … bão của Florida, hai bàn tay chai cứng, nước da rạm nắng, anh Chính không một lúc nào cảm thấy mỏi mệt. Anh so sánh:
“Mười bốn năm làm vườn, hàng ngày lao động với mấy chục công nhân, nhưng so với sự chịu đựng gian khổ trong chiến tranh thì làm farm chỉ là đồ bỏ.”
Gia nhập binh chủng dù từ sau Tết Mậu Thân vì cả gia đình đều “đi nhảy du,” đơn vị anh được điều đến Quảng Trị và đóng quân xuốt từ 1972 đến khi miền Nam bắt đầu cho di tản chiến thuật.
“Địch quân pháo suốt ngày đêm nhưng rất may mắn tôi chỉ bị ghim vài miểng nhỏ, không bị thương nặng trong khi anh ruột tôi cũng đóng tại Quảng Trị bị chết trận.”
Anh nói rằng lúc đó ai cũng nghĩ “sống chết có số, tới đâu thì tới,” nên ít ai thấy sợ. Nhưng các bạn đồng đội của anh có gia đình lại cảm thấy nhớ nhà, nhớ vợ con khi phải đóng chốt quá lâu tại miền Trung.
Tiếng đạn pháo kích, tiếng trực thăng đổ quân, tiếng hét đớn đau của người bị thương, tiếng gầm xé của phản lực cơ, tiếng bom xé tai, lửa khói mịt mù của vùng hỏa tuyến giờ đây chỉ còn để lại trên cánh tay phải của anh một vết xâm: hình một con rồng quấn quanh con dao găm.

“Công việc bề bộn lắm, nào là chăm sóc, bón phân, tưới tiêu, diệt sâu rầy, sủa chữa các dàn máy cày, xới, rồi thu hoạch trái cây, đóng thùng và ship đi các nơi … làm hoài cũng không hết, thành ra tui cũng ít có dịp tham gia các hội đoàn người Việt ở Miami.”
Rồi đến cuối tuần, vợ chồng con cái gia đình Nguyễn Chính chẳng cần đi đâu xa vì ngay trong vườn mít sau hè, anh đã giành một khu đất để picnic cắm lều, mắc võng đu đưa an hưởng không khí ngoại ô yên tĩnh. Anh còn tự xây một hòn non bộ với nước róc rách chảy và một căn chòi lá để ngồi ngắm cá vàng bơi đùa. Chưa hết, cạnh đó là khu vườn lan với hàng trăm chậu lan hiếm nhiều màu khoe sắc tỏa hương.
“Vui thú điền viên, gia đình tui cũng ít đi biển,” anh nói.

Hỏi về những nhà trồng tỉa gốc Việt khác anh cho biết:
“Trong vùng còn có bốn, năm người Việt ở về phía nam Miami chuyên trồng rau nhưng với diện tích khiêm nhường hơn. Còn lại phần lớn người Việt Florida sống rải rác và đi làm nail hay làm trong Disney World và cũng mua nhà to như bên Cali vậy. Người từ Cali, rồi Tampa, Orlando người Việt cũng rủ nhau  kéo về đây ngày càng đông.”
Chỉ cách khu vườn mít của anh Chính, vài phút là khu nhà mới, đang xây dựng với giá bán chỉ khoảng 300 trăm ngàn nhưng đồ xộ và rộng bằng căn nhà 1 triệu tại Thung Lũng Điện Tử.
Đất Florida yên lành, nhà rẻ vậy người Việt có nên tập trung về đây làm vườn trồng cây ăn trái không?
“Lúc đầu cực lắm, chịu không nổi đâu, nếu phải bắt đầu lại tui cũng không dám,” anh khuyên.

                                      Bài phóng sự được đăng trên Viet Mercury số 287 12/15/2005