Thursday, April 30, 2015

Ba Bức Ảnh, Một Cuộc Chiến













Đức Hà

Chiến tranh Việt Nam để lại nhiều bức ảnh độc đáo ghi nhận những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến từ mở đầu đến kết thúc. Hình ảnh một cấp chỉ huy cảnh sát Sài Gòn tử hình một tù binh phe đối nghịch ngay tại mặt trận ngày mồng Hai Tết Mậu Thân của Eddie Adams, một bé gái trần truồng hãi sợ chạy trong điên loạn của Nick Út của thời chiến tranh leo thang 1972, đến cảnh lũ lượt trốn chạy trên nóc một tòa nhà ngày 29 tháng Tư, 1975 đánh dấu sự xụp đổ không thể tránh của Sài Gòn 40 năm trước đây … giờ đây đã đi vào lịch sử. Nhưng hệ lụy của những bức ảnh đó vẫn tồn tại không phai mờ, với nhiều người Việt thì đó là cơn ác mộng, những dấu mốc kinh hoàng của đất nước. Ít nhất 255 ngàn người Việt trở thành thuyền nhân và đến được một quê hương mới, nhiều ngàn người khác bỏ thây ngoài biển khơi, trên đường bộ hay mất tích.
Hơn 1.8 triệu người Việt đang định cư tại Mỹ. Theo Wikipedia có khoảng 3 triệu người Việt định cư tại hải ngoại, phần lớn bỏ nước sau 1975.

Mậu Thân 1968 - Khi Eddie Adams chụp được ảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan nổ súng vào đầu một cán binh Cộng Sản bị bắt làm tù binh thì không phải chỉ một người chết mà đến hai người. Tác giả Adams viết trên tuần báo Time: “Viên tướng giết lính Cộng; Tôi giết viên tướng với chiếc máy hình …” điều mà sau này Adams thú nhận rằng ước gì ông không chụp tấm ảnh đó. Ông viết tiếp: “Ảnh thời sự là vũ khí có sức tàn sát mạnh mẽ nhất trên thế giới. Người xem tin vào nó; nhưng ảnh không nói lên hết sự thật, cho dù cả không bị cắt xén. Ảnh thời sự chỉ nói lên phân nửa sự thật … Điều mà bức ảnh không nói là ‘bạn sẽ xử trí ra sao nếu là tướng chỉ huy vào đúng thời điểm nóng bỏng đó, và lại vừa tóm bắt được điều được gọi là một kẻ ác, sau khi tay này đã giết hại một, hai hay ba người Mỹ?’ Qua phỏng vấn với hệ thống truyền thông độc lập NPR, ông Adams giải thích: “Ông ta (Tướng Loan) chiến đấu cho cuộc chiến của Mỹ, không phải của họ, mà của Mỹ, vậy mà tất cả những quy lỗi đều gán lên ông ta.” Điều chưa được nói trong bức hình là trước đó không lâu vài quân bạn dưới quyền ông Loan bị sát hại vào lúc đã có thỏa thuận hưu chiến giữa hai bên nhân dịp Tết. Sự phẫn nộ của một người chỉ huy ngoài mặt trận – mà Adams sau đó mới khám phá là một người yêu nước, một anh hùng, quyết tâm chiến đấu vì tổ quốc. Mãi về sau khi ông Loan đến định cư tại Mỹ và phải đối đầu với vô vàn khó khăn do bức ảnh gây ra thì chính nhiếp ảnh gia Adams đã xin tạ lỗi với người trong hình cùng gia đình do những tác hại đến danh dự không sao hàn gắn được. Khi ông Loan qua đời ở Virginia, Adams gởi hoa và thiệp chia buồn với dòng chữ “Tôi rất đau buồn, nước mắt đọng đầy trong mắt tôi.” Hơn thế nữa, bức ảnh của Adams còn làm cho phong trào phản chiến tăng thêm cường độ, và hai tháng sau Tổng Thống Johnson loan báo không ứng cử nhiệm kỳ hai. Có ai ngờ một bức ảnh rồi ra đã đưa phong trào phản chiến lan tràn khắp nước Mỹ, một tổng thống phải ngậm ngùi không ngồi thêm nhiệm kỳ hai để vài năm sau đó Việt Nam Cộng Hòa bị xóa xổ.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 - Ngày 08 tháng Sáu, 1972, nhiếp ảnh gia chiến trường Huỳnh Công Út được hãng AP phân công đi thu thập hình ảnh chiến sự trên Quốc Lộ 1 hướng về biên giới Kampuchia nơi đang có giao tranh tại khu vực gần Tây Ninh. Khi đến Trảng Bàng, xe chở ông Út bị tắc nghẽn bởi hàng đoàn xe của cả quân sự lẫn dân sự do địch quân đắp mô phía trước và vẫn còn kiểm soát một đoạn của QL1 trong khi các đơn vị của Sư Đoàn 25 đang càn quét giải tỏa các ngôi làng hai bên lộ. Ông Út gia nhập với toán quân bộ binh để làm nhiệm vụ. Đến khoảng 1 giờ trưa bộ binh gọi phi pháo yểm trợ. Hai chiếc Skyraider xà xuống tọa độ được chỉ điểm gần Thánh Thất Cao Đài và liên tục thả bom nổ, bom xăng napalm, kể cả bắn đại bác. Khói bay mịt mù, tia lửa bắn ra như sao băng, tiếng nổ vang động. Và theo lời tường thuật của Horst Fass và Marianne Fulton trong bài “The Bigger Picture,” không ai nghe tiếng được tiếng súng phòng không bắn trả. Nhưng khi phi cơ đã bay xa thì hàng chục dân làng, quần áo tả tơi, mặt mày hoảng sợ bỗng xuất hiện từ vùng bị dội bom và chạy xối xả về phía quân bạn, nơi nhóm các nhà báo đang chực sẵn. Trả lời phỏng vấn năm 1999, Nick Út kể: “Khi nhóm phóng viên chúng tôi tiến gần đến ngôi làng, chúng tôi thấy đám dân làng đầu tiên chạy ùa ra. Tôi thầm nghĩ ‘Ôi Trời đất’ khi bất ngờ thấy một phụ nữ với chân trái bị napalm đốt cháy tệ hại. Kế đó là một phụ nữ khác bồng bế đứa con - đã chết, rồi một bà nữa bế con nhỏ da cháy nám rớt ra từng mảnh. Khi tôi dương máy chụp những bức ảnh này tôi nghe tiếng khóc thét của một em bé và thấy bé gái vừa chạy vừa ném bỏ hết quần áo đang cháy trên người. Bé gái gào hét gọi nguời anh trai chạy bên trái. Trước khi máy bay bỏ bom, toán lính bộ binh đã kêu to gọi các em nhỏ chạy nhanh nhưng đã quá trễ.”

Ông Út kể tiếp: “Khi bé gái thấy tôi, bé nói ‘nóng quá, nóng quá’ và xin nước uống. Tôi lấy nước cho bé uống và nói thêm là sẽ tìm cách giúp bé. Tôi bồng bé lên và đưa về chiếc xe của tôi, rồi phóng nhanh hướng về bệnh viện Củ Chi, cách đó một giờ đồng hồ. Bệnh viện lại có quá nhiều thương binh, người sống người chết, họ chẳng màng đến bé gái. Tôi nói với họ “Tôi là một nhà báo, hãy làm ơn giúp bé gái này, tôi không muốn em chết.’ Thế là bé gái được chăm sóc ngay.”
Cô gái chín tuổi trong hình tên Phan Thị Kim Phúc. Sau 14 tháng nằm bệnh viện với 17 lần lên bàn giải phẫu, Kim Phúc trở về làng cũ ở Trảng Bàng. Ông Út, năm đó 21 tuổi, đã dùng hai máy ảnh để ghi nhận bức ảnh đoạt giải Pulitzer 1972 – một Leica và Nikon với ống kính dài. Nhưng bức ảnh gây chấn động thế giới đó đưa đến hai sự kiện. Nhằm mục đích tuyên truyền, chính quyền Hà Nội dùng lá bài Kim Phúc cho chiến dịch quảng bá phong trào chống chiến tranh. (Ghi chú: Chỉ bốn năm sau Việt Nam xua quân tiến chiếm Kampuchia.) Theo bài tự thuật “The Long Road To Forgiveness” Kim Phúc nói rằng cô bị gián đoạn học vấn để làm công cụ tuyên truyền cho nhà nước. Nhiều lần cô muốn tự vẫn vì cảm thấy mất thăng bằng trong cuộc sống cho đến khi nghiên cứu sách để tìm đường giải thoát tâm linh, cô đã đọc cuốn Thánh Kinh và sau đó cải đạo từ Cao Đài sang đạo Thiên Chúa. Năm 1986, Kim Phúc được xuất ngoại du học ngành dược và chữa trị vết phỏng ở Cuba. Đến 1992, Kim Phúc cùng chồng Bùi Huy Toàn đi hưởng tuần trăng mật ở Moskva, nước Nga; và khi máy bay đáp lấy xăng tại Newfoundland, Canada, bà và chồng đã trốn ở lại và xin tị nạn chính trị với chính quyền địa phương. Hiện gia đình Kim Phúc và hai con đang định cư tại Ontario, Canada. Nói về bức ảnh của Nick Út, Kim Phúc có lời nhắn với thế giới rằng “Xin đừng nhìn bé gái trong hình như sự than khóc vì sợ và đau đớn hãy xem đó như lời gào thét vì hòa bình.”

Tháng Tư, 1975 – Hôm đó là thứ Ba 29, tháng Tư, phóng viên ảnh Hugh Van Es, gốc Hòa Lan và làm việc cho hãng tin UPI ở Sài Gòn. Ông dùng máy ảnh Nikon, gắn ống kính 300 mm và chĩa về phía nóc nhà kế cận, nơi một chiếc trực thăng của Air America đang chuẩn bị di tản một nhóm hành khách - để rồi ra trở thành cuộc di tản quy mô nhất bằng máy bay trực thăng trong lịch sử. Đó là bức ảnh ghi dấu chương cuối của miền Nam Việt Nam. Một ngày sau đó cuộc chiến Việt Nam – còn được gọi là cuộc chiến “Chống Mỹ cứu nước” chấm dứt. Tuy được chụp ở nơi khác tại Sài Gòn, rất nhiều người lầm tưởng bức hình được chụp sân thượng sứ quán Mỹ trên đường Thống Nhất.
Điều thú vị là 30 năm sau, nhiếp ảnh gia Van Es đã trở lại Việt Nam để viếng thăm những nơi ông và đồng nghiệp từng công tác như đồi Hamburger Hill … Ông kể rằng khi viếng Nhà Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh, ông thấy bản sao của một bức hình do chính ông chụp ghi nhận cảnh binh lính đơn vị nhảy dù Mỹ 173rd Airborne đang tiến quân thì chú thích tại nơi triển lãm lại đề ngược là “đang tháo chạy.” Ông Van Es cho giới chức liên hệ xem bản gốc với yêu cầu sửa lời chú là “đang tiến quân”. Lẽ dĩ nhiên ông bị từ chối. Phát biểu về vấn đề này ông nói: “Tôi chụp những bức hình đó cho thế hệ mai sau, cho lịch sử, và tôi không cho phép họ xuyên tạc lịch sử nhằm mục tiêu tuyên truyền.” Ông nói thêm rằng “vết thương chiến tranh cần nhiều thời gian để hàn gắn. Vào lúc nào đó, tôi sẽ cố gắng lần nữa.”

1975 – 2015 Eddie Adams qua đời năm 2004, Hugh Van Es năm 2009, Huỳnh Công Út vẫn gắn bó với Associated Press. Hoa Kỳ bỏ cấm vận (1994) và tái lập bang giao với Việt Nam 1995. Năm 2001 hai bên ký thỏa ước mậu dịch song phương mang hai nước cựu thù xích lại gần nhau hơn cho dù 1,319 binh sĩ Mỹ vẫn bị xem là mất tích tại Việt Nam trên tổng số 1,731 trong vùng Đông Nam Á. Trong cùng lúc nhiều thành phố Mỹ - Việt đã kết nghĩa chị em: San Francisco/ TP.HCM, Newport Beach/Vũng Tàu Bà Rịa, Seattle/Hải Phòng, Pittsburgh/Đà Nẵng, New Haven, Honolulu/Huế, Madison/Bắc Giang và mới đây nhất là đề nghị kết nghĩa hai sông Mississippi/Mekong. Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều hồ hởi với chuyện kết nghĩa; tại Fayetteville, North Carolina nơi có trung tâm huấn luyện Fort Bragg, nhiều cựu quân nhân tại đây không hài lòng với việc thành phố của họ kết nghĩa với Sóc Trăng - nhất là hội cựu binh sĩ Sư Đoàn 82 Nhảy Dù. Một số quân nhân xuất thân từ Fort Bragg từng đóng quân tại phi trường Sóc Trăng thời chiến tranh. 

Còn Sài Gòn sau bước ngoặt lịch sử 30 tháng Tư - như mọi người đều biết, được thay căn cước và sổ gia đình bằng chứng minh nhân dân và hộ khẩu, triệt để xóa bỏ tầng lớp tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp tư doanh và tập thể hoá nông nghiệp để tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, nhưng rồi lại được sửa sai để chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với thời gian Sài Gòn vươn cao hơn, rộng hơn, đông hơn, ùn tắc hơn và cũng … ngập nước nhiều hơn. Giai cấp tư sản (đỏ) ngày càng nhiều và giàu gấp bội giới tư sản mại bản trước kia. Trong khi đó việc hòa hợp hòa giải vẫn (mãi mãi) là ảo tưởng. Một bên rập khuôn nhắc đi nhắc lại và kêu gọi tất cả người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt quá khứ, dân tộc, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế và cả những nhận thức, ý kiến còn khác nhau cùng đoàn kết, chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc vv … ­ dù biết rằng chẳng kết quả nào, chẳng ai tin, còn bên kia chỉ đợi dịp là phất cờ vàng xuống đường biểu tình chống đối. 


Nhiều cuốn sách vạch trần sự thật đằng sau bên thắng cuộc do phía bên kia viết hay hồi ký do phía bên này biên soạn đã giúp độc giả thêm hiểu biết về cuộc chiến (Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Bí Mật Vietnam Wikileaks, Những Người Thua Trận, Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Khi Đồng Minh Tháo Chạy ...) Và mới đây nhất hai bộ phim Last Days In Vietnam và Ride The Thunder được trình chiếu cho thấy một góc nhìn khác với Full Metal Jacket, The Deer Hunter, Apocalypse Now ...

Tổng kết thương vong từ cuộc chiến Vietnam: 58,220 lính Mỹ; từ 1,5 đến 3,6 triệu người Việt kể cả thường dân từ hai phía. Sau 1975 ước tính có khoảng 200 ngàn người bị tập trung cải tạo, hầu hết đều được đi định cư tại Mỹ và là một phần của 4,5 triệu người Việt sinh sống ở ngoài Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống của miền Nam (1965-1975) để lại một câu nói giá trị ngàn đời "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm." Trong khi đó lãnh tụ Lê Duẩn của miền Bắc (1976-1986) có câu phát biểu giải thích toàn bộ về công cuộc giải phóng miền Nam“Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô.”

Sau 40 năm thống nhất đất nước, Vietnam được xếp hạng ba (sau Trung Quốc, Nga) về mức độ phá thai nhưng đứng đầu bảng về tỷ lệ phá thai 83.3% (cứ 1,000 phụ nữ thì 83.3 người loại bỏ hay lấy phôi hay thai nhi khỏi tử cung trước khi đến hạn sinh nở.) Theo Google Trends, Vietnam xếp hạng bẩy toàn thế giới về truy cập sex trên mạng, hạng ba về sex đồng tính trong đó Saigon và Hanoi là hai thành phố đứng đầu cả nước về lượng truy cập sex đồng tính. Và thống kê của Liên Hiệp Quốc cho thấy tổng sản phẩm quốc nội - GDP của VN năm 2013 là 1,865 (hạng 141 toàn thế giới.)

Và người Việt hải ngoại cùng Việt kiều yêu nước vẫn về nước, gửi tiền về quê nhà hà rầm (10 - 12 tỉ đô-la theo Ủy Ban về Nguời Việt ở Nước Ngoài). Chỉ có điều những từ xấu xa như “chế độ Mỹ ngụy, ngụy quân ngụy quyền, ôm chân đế quốc, tay sai tư bản Mỹ …” được thay bằng “không có người Việt Nam chiến thắng hay người Việt Nam thua. Đấy là chiến thắng chung của cả dân tộc, khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời, một phần máu thịt của Việt Nam …" và "Nghị Quyết 36.”

Xem Last Days in Vietnam

Wednesday, April 22, 2015

Những Người Con Của USS Kirk (Phần II)



Một Baby Kirk tại trại tỵ nạn


Đức Hà

Chỉ vài ngày sau khi thủy thủ trên chiến hạm USS Kirk gặp gỡ lần đầu tiên với Baby Kirk Phạm Viễn Phương trong buổi liên hoan hội ngộ tại Renton, bang Washington, ngày 12 tháng Tám 2006 thì Baby Kirk Nguyễn Hạnh Nhân xuất hiện.
“Sau khi tầu Kirk đưa đến Subic Bay thì mọi người phân tán, tôi lo cho bà xã đâu còn tâm trí đâu mà liên lạc với gia đình mấy bà bầu cùng đi trên tầu Kirk,” ông Nguyễn Hữu Nhượng, trả lời phỏng vấn qua điện thoại từ Texas.

Ông Nhượng, công chức tại Sài Gòn trước đây kể tiếp rằng sự hốt hoảng khi xuống tàu ra đi, rồi tin Sài Gòn thất thủ, trong lúc lại phải lo lắng cho vợ, bà Nguyễn Thị Nhỏ đang mang bầu đứa con đầu lòng khiến ông hoàn toàn rối trí.
“Kể từ khi vất vả chen chân được xuống tàu HQ3 tại bến Bạch Đằng chiều tối ngày 29 tháng Tư, 1975, thì đầu óc tôi như điên cuồng. Thấy bảo xuống tàu gấp, thì tôi đi chứ chẳng biết đi đâu.”
Ông cho biết tàu không chuẩn bị nước uống và thực phẩm nên khoảng 2-3 ngàn người trên tàu bị đói dài cho đến khi gặp tàu Mỹ tại Côn Sơn.

Hàng ngàn người Việt lênh đênh trên các ghe thuyền, tàu quân sự ngoài khơi hải phận Việt Nam tháng Tư, năm 1975 đã được tàu Mỹ hộ tống hoặc cứu vớt đưa đến Vịnh Subic của Philippines an toàn. Trong số hàng ngàn người này có năm phụ nữ mang bầu được đặc biệt đưa lên tạm trú trên chiến hạm Hoa Kỳ USS Kirk trong suốt chuyến hải hành từ Côn Sơn đến Subic Bay.

Hội Ngộ

Hai mươi chín năm sau, trong lần họp mặt đầu tiên năm 2004 tại San Diego, các thủy thủ trên chiếc Kirk quyết định tìm lại năm phụ nữ từng được họ cưu mang trước đây và nhận những người con của năm bà này làm con nuôi. Năm 2005, qua một bài viết trên báo Người Việt, Baby Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Nguyễn Thị Tường Lan gặp được những người cha nuôi trong ngày USS Kirk’s Reunion tại Orlando, Florida. Năm nay Baby Kirk Phạm Viễn Phương (xem Những Người Con Của USS Kirk - Phần 1), con gái của bà Nguyễn Thị Ân được xum họp với đại gia đình USS Kirk. Và chuyện bất ngờ nhứt là việc tìm thấy của Baby Kirk thứ ba Nguyễn Hạnh Nhân, một kỹ sư ngành hoá tại Dallas, Texas.

Hiện đang hưu trí an nhàn tại thành phố nhỏ Seguin, gần San Antonio, Texas, ông Nguyễn Hữu Nhượng, 67 tuổi nói rằng chuỗi ngày loạn ly vẫn là cơn ác mộng kinh hoàng nhứt đời, nhưng ông cũng không khỏi bỡ ngỡ và không thể quên khi vợ ông sanh con ngày 10 tháng Năm, ’75 trên một tàu hàng Mỹ di chuyển từ Subic đến Guam.
“Sanh xong, họ bắt bả đi tắm và cho ăn đủ thứ kể cả đồ chua mà không kiêng cử gì cả là điều làm tôi ngạc nhiên nhứt khi tiếp xúc với văn minh Mỹ,” ông Nhượng nói trong tiếng cười.

Từ Guam, gia đình ông Nhượng được chuyển trại đến Camp Pendleton, gần San Diego rồi từ đó về với người bảo lãnh ở Seguin.
Tại quê hương thứ hai, gia đình ông Nhượng tiếp tục bành trướng.
“Chúng tôi có thêm hai gái và một trai, tất cả đều chăm học và học thật giỏi, toàn thủ khoa,” ông hãnh diện chia xẻ.

Baby Kirk III

Thế rối, rất bất ngờ vào một ngày trời nóng bức như thường lệ của Nam Texas, ông Nhượng nhận được cú điện thoại làm ông mát rượi cả lòng:
“Ông Vinh trên Seattle gọi cho tôi sau khi hỏi thăm lòng vòng, từ người quen này sang người bạn kia, sau cùng thì tới tôi; cũng may là ông ấy còn nhớ tên Nhường nên cũng dễ kiếm.”
Ông Phạm Xuân Vinh là cha ruột của Baby Phạm Viễn Phương. Ngay sau đó cũng có tin đã “kiếm ra Baby Kirk thứ ba rồi!”

Ba cô gái 31 tuổi, Nguyễn Hạnh Nhân, Phạm Viễn Phương và Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên giờ đây là những con nuôi của tàu USS Kirk và cả ba đang chờ mong sẽ có dịp gặp nhau trong kỳ họp mặt năm 2007 tại Virginia. Cha và mẹ đã cho họ sự sống, nhưng không ai biết điều gì xảy ra nếu gia đình họ không được sự cưu mang của tàu Kirk, 31 năm trước đây. Bởi vậy khi hỏi về cảm xúc của mình trong buổi Reunion 2006 vừa qua, Baby Kirk Viễn Phương bày tỏ:
 “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk, thì không biết ra sao nữa?”

Friday, April 17, 2015

Những Người Con Của USS Kirk



Đức Hà

SEATTLE – Vào trưa ngày 30 tháng Tư, 1975 khi một lá cờ được hạ xuống tại Dinh Độc Lập thì Phạm Viễn Phương vẫn còn nằm trong bụng mẹ trong lúc cha, Phạm Xuân Vinh, mẹ Nguyễn Thị Ân cùng anh hai 4 tuổi đang ngồi trên một chiếc Honda hoảng hốt phóng chạy ra bến Bạch Đằng tìm đường thoát thân, giữa một Sài Gòn hoang tàn hấp hối.
“Chúng tôi phải đi thôi, cho dù tôi đang mang bầu người con thứ hai được 9 tháng có thể sanh bất cứ lúc nào, mà ở lại thì số phận chồng tôi sẽ tù tội, vợ con không biết tương lai ra sao,” bà Ân, kể lại giây phút kinh hoàng nhứt của gia đình họ Phạm, giọng nói ngập ngừng xúc động.
Ông Vinh, từng là giảng viên trường Sinh Ngữ Quân Đội, nay đã 65 tuổi, cư dân Lynnwood, phía bắc Seattle, bồi hồi:
Gia đình Ông Bà Phạm Xuân Vinh tại Renton, WA 2006

“Vào đến Hải Quân Công Xưởng, chúng tôi nhào đại lên tàu Lam Giang HQ402 cùng với khoảng vài ngàn người, chen chúc đến nghẹt thở.”

Nhưng chuyện gì xảy ra sau đó để ngày 18 tháng Năm 1975, bà Ân cho ra đời bé Phạm Viễn Phương trên đất Guam - mẹ tròn con vuông và để Viễn Phương trở thành một trong ba công dân Mỹ gốc Việt đầu tiên sau biến cố ’75 là cả một câu chuyện dài tràn đầy nước mắt hạnh phúc và thương đau, giằng co giữa sự sống và cõi chết. Tuy nhiên hạnh phúc hay sự sống có đến được với hàng ngàn người Việt lênh đênh trên chiếc HQ402 liệt máy và trên 30 tàu thuyền khác cùng trên mươi chiếc trực thăng UH-1 đầy người tị nạn Việt đáp lên tàu Kirk là chính nhờ ơn cưu mang của các chiến hạm Mỹ, đặc biệt là chiếc USS Kirk.
Bà Ân tin chắc “Có Ơn Trên phù hộ.”
Ông Vinh khẳng định: “Chúng tôi may mắn.”
Phạm Viễn Phương, vừa tròn 31 tuổi, tay bồng con trai đầu lòng, 2 tuổi, bày tỏ: “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk?”
Hạm Trưởng USS Kirk khiêm nhường: “Chúng tôi làm theo lệnh với một tấm lòng.”

Ba mươi mốt năm sau, toàn gia đình ông Vinh, nay tăng thêm một rể và một cháu ngoại, đã có buổi gặp gỡ đầu tiên với thủy thủ đoàn chiến hạm Mỹ tại buổi hội ngộ USS Kirk Reunion 2006 tại Renton, Washington. Nếu năm 1975, gia đình họ Phạm điên đảo lo lắng đến cùng cực cho tương lai khi Sài Gòn xụp đổ, thì ngày 12 tháng Tám vừa qua, họ là thượng khách của buổi trùng phùng tràn đầy tiếng cười, tiếng nhạc và lời chúc tụng bình an. Lần thứ ba liên tiếp từ năm 2004, chiến hạm Kirk lại có tuần lễ đoàn tụ để những người con của USS Kirk có thể gặp gỡ, chung vui với những người đã cứu vớt họ trên đường loạn ly năm nào.

USS Kirk

Hạm Trưởng Paul H. Jacob không thể ngờ rằng sự liên hệ của ông với Việt Nam không chỉ dừng ở chín nhiệm kỳ công tác tại vùng biển VN với nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho mặt trận trên đất liền, mà còn mở rộng đại gia đình tàu USS Kirk đến tận ngày hôm nay.
“Có ai ngờ USS Kirk một chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ lại có con cháu là người gốc Việt?” ông nói trong hãnh diện và vui thú.
Tháng Tư, 1975, tàu Kirk có nhiệm vụ chính là yểm trợ cho các đoàn trực thăng làm công tác di tản nhân viên đại sứ quán cùng các cơ quan Mỹ tại Sài Gòn, nhưng nhiệm vụ phụ lại khó khăn hơn nhiều:
“Chúng tôi cũng được lệnh phải cứu giúp người tị nạn trên biển kể cả trực thăng của các phi công VN, và sau đó chuyển họ sang các tàu dân sự đủ an toàn đi đến cảng Subic, của Phillipines.”

Tuy nhiên để đối phó với tình huống bất ngờ khi phát hiện có năm phụ nữ mang bầu gần ngày sanh trong đó có bà Nguyễn Thị Ân, tàu Kirk không có cách nào khác là cấp tốc thành lập phòng hộ sản dã chiến ngay trên tàu.
“Chúng tôi dùng phòng nghỉ của sĩ quan để lập phòng sanh, nhưng năm bà, bà nào cũng khóc lóc rên la thảm thiết, mà chẳng chịu sanh,” ông kể.
Phải nhiều ngày sau khi chuyển đến Guam, bà Nhường (hay Nhượng) sanh đầu tiên, đến bà Ân sanh ngày 18 và bà Nguyễn Thị Tường Lan ngày 22 tháng Năm 1975. Nhưng cũng từ đó USS Kirk và nhóm người Việt mất liên lạc.
Hạm Trưởng Jacob cho hay phải 30 năm sau, nhờ sự giúp đỡ của báo Người Việt, ông mới được gặp người con nuôi đầu.
“Trong cuộc họp mặt năm ngoái tôi gặp con nuôi Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Lan có tên đệm là Kirk, năm nay là con nuôi Phạm Viễn Phương, con của bà Ân, còn phụ nữ thứ ba cũng sanh tại Guam thì chúng tôi vẫn chưa bắt liên lạc được.”

Tuy chiến hạm Kirk được chuyển giao cho Đài Loan năm 1993 và đổi tên thành Fen Yang, nhưng theo lời ông Jacob đại gia đình USS Kirk vẫn còn và ngày một đông con cháu hơn.
“Có vui nào bằng vui đoàn tụ đại gia đình, phải không nhỉ,” ông nói.

Reunion 2006

Đã 31 năm trôi qua, nhưng hình ảnh của những ngày đen tối năm xưa vẫn còn in đậm nét trong từng con người.
Bà Ân, mẹ của baby Kirk Viễn Phương thú nhận: “Thật tình lúc đó chúng tôi không biết chạy đi đâu, dường như có điều gì thúc đẩy nên cứ phía trước chúng tôi liều mình chạy tới.”
Bà Lan, cư dân Long Beach, Nam Cali, mẹ của Baby Kirk Giáng Tiên, cũng y hệt: “Lúc đó tôi chỉ mới 17 tuổi, một thân một mình, bụng mang cháu, thấy hàng xóm chạy thì mình cũng chạy; vậy mà cũng chạy tới tận Mỹ.”
Viễn Phương, thực tế hơn: “Thật là hạnh phúc khi cả gia đình Phương vẫn còn sống và đến định cư tại Mỹ đến ngày hôm nay và Phương có cháu trai đầu lòng, cháu ngoại đầu tiên của tàu Kirk đấy!”

Và trong lúc mọi người từ thủy thủ đến người Việt đều ghi nhận hình ảnh trái ngược khi Mỹ rút năm ‘75, và người Việt chạy tán loạn để vài mươi năm sau cả người Mỹ lẫn người Việt từ từ trở lại nơi đã bỏ đi, thì Hạm Trưởng Jacob lại có thêm công tác không kém phần ngược trái.
“Năm 1975 tôi có nhiệm vụ cứu vớt người Việt trên biển thì nay tôi lại giúp người Việt tháo gỡ bom, đạn và mìn do người Mỹ ném xuống VN.”
Ông Jacob cùng với con trai là thành viên của nhóm chuyên viên đặc biệt đang làm công tác truy tìm dữ kiện về các tọa độ quân đội Mỹ đã dùng để thả bom hay gài mìn tại chiến trường Việt Nam. Người ta ước tính quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 15 triệu tấn bom đạn các loại trong đó có 10% chưa nổ, và tin cho biết có ít nhứt 38,000 người chết và hàng trăm ngàn người bị thương do bom đạn không nổ kề từ khi chiến tranh chấm dứt.
“Với tôi, nhiệm vụ vẫn chưa hết,” ông nói trong bài diễn văn đọc tại buổi Reunion 2006.

Saturday, March 7, 2015

Đất Lành Chim Đẻ


Đức Hà

Mang bầu ở quê nhà Hoa lục, du lịch sang Mỹ và bể bầu tại Cali đang là công thức thịnh hành trong cộng đồng người Hoa ở Mỹ. Bước thứ nhất: mang bầu, chuyện quá dễ với phụ nữ Tàu. Bước thứ hai: visa du lịch Mỹ tương đối không khó. Bước thứ ba: bể bầu ở Cali, vừa đảm bảo mẹ tròn con vuông và hầu như miễn phí. Đó là những yếu tố quyến rũ với giới giàu có trong xã hội tư bản đỏ ngày càng nhiều ở Trung Quốc. Và một khi đã sanh trên lãnh thổ Mỹ thì theo luật, người con đương nhiên là công dân Mỹ; đã là công dân Mỹ thì khi đủ tuổi trưởng thành có quyền bảo lãnh cho cả họ tộc sang Mỹ. Một chuyến du lịch sanh con như vậy là thắng lợi và thành công mỹ man, một công đôi ba việc. Đó là chưa kể khi nội địa bất ổn, bị hỏi thăm về tài sản hay chuyện tham nhũng thì hộ chiếu USA là cái vé đảm bảo cho sự an toàn bản thân.
Chuyện này dường như kéo dài từ nhiều năm nay, xuông xẻ, êm thắm cho dù báo chí Mỹ đã nhiều lần lên tiếng về dịch vụ "Birth Tourism" cho đến thứ Ba vừa qua khi nhiều cơ quan công lực Mỹ đã cùng một lúc bố ráp 20 điểm "tập kết" các bà bầu trên toàn Cali trong nỗ lực ngăn chận các đường dây đưa bà bầu sang Mỹ hợp pháp mà kỳ thật là bất hợp pháp.

Trang web starbabycare, quảng cáo dịch vụ du lịch sanh con ở Mỹ

Người ta thường ví von "đất lành chim đậu" là nơi có điều kiện thuận lợi, dễ làm ăn, nhiều người tìm đến sinh sống. Nhưng đất có nhiều cơ hội nhất thế giới lại là Mỹ thì việc tìm đến để sinh sống rõ ràng không dễ. Nói tóm gọn là xin được cái visa nhập cư Mỹ là cả một quá trình nhiêu khê và phức tạp nếu không nói là dài lâu vô tận. Cái khó không bó cái khôn, phụ nữ Hoa đã chọn con đường tắt, ăn chắc và dĩ nhiên tốn kém qua dịch vụ "Đất Lành Tôi Đẻ" thay vì đi chui kiểu đóng hộp chen chúc trong hầm tầu hay công-te-nơ hôi hám - mà phần lớn chết ngạt khi bị phát hiện. Trong khi đó người Mễ và cư dân Nam Mỹ thường chọn con đường gian khổ, hiểm nghèo để nhập cư trái phép Hoa Kỳ. Họ băng rừng lội suối, vượt sa-mạc ban ngày nóng bỏng, lạnh buốt về đêm để kẻ nào may mắn sẽ đến được đất hứa toàn thây. Từ đó họ thẩm nhập vào cộng đồng nói cùng ngôn ngữ và biến mất. Họ lập gia đình và sanh con và sau cùng cũng dựa trên yếu tố con mang tịch Mỹ để hợp thực hóa căn cước nhân thân bất hợp pháp của họ. Đi đường nào thì đi, may thì trót lọt, thiếu may thì bị bắt, tù đày và cuối cùng trục xuất trở về quê cũ, xui thì bỏ xác nơi sa-mạc hay bị băng đảng ma túy giết hại. Hiện nay vận xui đang bủa vây các bà bầu người Hoa.

Bố Ráp

Bất ngờ vào sáng sớm thứ Ba vừa qua, nhân viên công lực gồm các ngành thuế vụ, di trú, biên phòng, an ninh ngoại giao, cảnh sát và cục điều tra liên bang đã cùng lúc đột nhập và bố ráp 20 địa điểm bị cáo buộc là nơi tập trung các bà bầu Trung Quốc tại nhiều thành phố ở Nam Cali từ Walnut, Irvine, Rancho Cucamonga, Mission Viejo đến Rowland Heights. Tin cho biết đây là cả một tổ chức quy mô hướng dẫn và tư vấn từng chi tiết cho các bà bầu để có thể đi Mỹ và sanh con hợp pháp ở Mỹ. Họ giúp từ khâu xin chiếu khán du lịch Mỹ, cung cấp phương tiện đưa đón sân bay, nhà ở lịch sự khang trang ở Mỹ, bao ăn uống kể cả đưa đi khám thai định kỳ cũng như đi mua sắm, viếng thăm các khu du lịch như Disneyland, Universal Studio ... đến khâu cuối cùng là nhập viện sanh con. Các giới chức cho hay vấn đề người nước ngoài sanh con ở Mỹ vẫn xảy ra trong cộng đồng người Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nigeria và Thổ Nhĩ Kỳ ... nhưng đây là lần hiếm hoi có sự can thiệp mạnh bạo của chính quyền. Các dịch vụ quảng cáo "khách sạn phụ sản" hay "trung tâm phụ sản" thường liệt kê một loạt những ưu điểm khi sanh con ở Mỹ như có quốc tịch Mỹ ngay tức thì, có số an  sinh xã hội, được hưởng giáo dục miễn phí, và quyền lợi di dân cho cha mẹ vẫn được phổ biến công khai tại nước sở tại. Hình ảnh trên truyền hình CBS tối thứ Ba cho thấy rất nhiều trang quảng cáo bằng tiếng Hoa được thấy trên báo in và báo mạng ở Trung Quốc. Trước đây phụ nữ Trung Quốc thường "vượt biên" sang Hồng Kông để sanh nở và hưởng quy chế thường trú Hồng Kông - nhưng Hồng Kông lại sát nách Trung Quốc nên với tay sang Hoa Kỳ là sự lựa chọn khôn ngoan khi vấn đề tài chánh không còn là trở ngại với tầng lớp đại gia mới.

Theo nội dung lệnh tòa cho phép khám xét các cơ sở tình nghi, những cá nhân đứng sau dịch vụ bị cáo buộc gian lận visa, giúp phụ nữ khai gian khi xin cấp chiếu khán du lịch kể cả gian dối khi vào phỏng vấn với nhân viên lãnh sự Mỹ. Tuy không người nào bị bắt giữ trong vụ lục soát nhưng giới chức An Ninh Nội Địa và IRS tịch thu nhiều tài liệu và chứng cớ cùng phỏng vấn các bà mẹ để có thể truy tố hình sự những người cầm đầu tổ chức. Bài tường thuật trên báo mô tả cuộc bố ráp với khoảng 40 nhân viên công lực vào hơn chục khu nhà ở ở Rowland Heights kể rằng khi bị gỏ cửa, có tiếng phụ nữ bên trong nói vọng ra "ở đây có con trẻ." Trong cùng lúc thì nhiều phụ nữ mang bầu ôm bịch quần áo đi giặt rất ngỡ ngàng khi thấy nhà bị khám xét. Một phụ nữ giải thích: "Ngộ là một bà mẹ, ngộ muốn có đầy đủ sức khỏe để sanh nở. Ngộ muốn con ngộ được hạnh phúc được thở không khí tự do." Khi căn hộ này bị khám xét các căn kế bên hé mở bức rèm rồi đóng vội lại ngay tức thì. Người ta nghe được tiếng khóc thé của nhiều con nít vọng ra. Một phụ nữ khác đến từ Hồ Nam hồi tháng 12 cho biết đang có bầu tám tháng và muốn sanh ở Mỹ để tránh né chính sách chỉ được có một con ở quê nhà. Bà còn nói chỉ một tháng nữa là bể bầu và về lại Trung Quốc ngay sau đó. Nhưng vì con bà có tịch Mỹ nên bà bày tỏ sự hân hoan khi con có một tương lai tươi sáng.

Bài tưòng thuật tiết lộ chi tiết về một nhân viên an ninh chìm đã liên hệ với tổ chức để hỏi về chương trình du lịch sanh đẻ ở Mỹ cho thân nhân ở Bắc Kinh. Người này được hướng dẫn tham quan khu nghỉ dưỡng cao cấp gần sân bay John Wayne ở Quận Cam. Người này cũng được hứa sẽ bố trí công ăn việc làm với một cơ sở ma cho thân nhân ở Hoa lục, được cấp một bằng đại học giả, được tư vấn mua trọn gói du lịch bao gồm máy bay khứ hồi và khách sạn hầu dễ thuyết phục nhân viên phỏng vấn Mỹ rằng chỉ đến tham quan Mỹ trong thời gian ngắn và về lại nước nhà. Người của tổ chức còn đòi hỏi cung cấp hình toàn thân để xem bụng bầu lớn cỡ nào trước khi ký hợp đồng. Được biết nhân viên chìm đã liên hệ với nhóm có tên "You Win USA."
Trong khi đó trang web http://www.starbabycare.com/ toàn bằng tiếng Hoa nhưng hình ảnh minh họa cho thấy một nước Mỹ lý tưởng để sanh con như "Comfortable Life, Elegant Environment, Warm and Comfortable Sitting on Experience ..." là một trong những trang web và tổ chức nằm trong mục tiêu của cuộc điều tra. Tin cho biết nhiều tổ chức khác nhau đều sử dụng chung cơ sở và tiện nghi ở Rowland Heights để chứa chấp các bà bầu. Ông Claude Arnold, thuộc cơ quan an ninh di trú Los Angeles nói với báo L.A Times rằng Mỹ là mảnh đất màu mỡ để phát triển các dịch vụ như vậy. Ông cho hay họ được khuyến cáo phải nói dối, chỉ dẫn cách nói dối để không lộ mục tiêu sau cùng là sang Mỹ chỉ để sanh con.

Đơm Hoa Kết Nhụy

Theo ước tính của nhân viên di trú mỗi năm có từ 40 ngàn đến 300 ngàn bà mẹ nước ngoài đến sanh con ở Mỹ. Phụ nữ Tàu được tư vấn nên nạp đơn du lịch đến các thành phố như Hawaii hay Las Vegas thay vì Los Angeles để tránh sự nghi kỵ của nhân viên lãnh sự; họ cũng được khuyến cáo mua tua trọn gói, đặt giữ chỗ và thuê khách sạn để qua mắt. Ngoài việc gian lận visa, các giới chức cho hay họ dự kiến sẽ phát hiện các chi tiết khác như trốn thuế, rửa tiền cùng nhiều hành vi tội phạm hình sự khác. Chi phí cho dịch vụ trọn gói này giao động từ 15 ngàn đến 80 ngàn đô, không tính các dịch vụ sanh nở tại bệnh viện hoàn toàn miễn phí hoặc gia giảm vì tất cả đều khai có lợi tức thấp và không có bảo hiểm y tế.
Một cơ sở ở Irvine đã kiếm được trên hai triệu đô khi đưa hơn 400 phụ nữ vào đẻ tại một nhà hộ sinh ở Quận Cam năm 2013. Một bà chỉ trả $4,080 đô từ biên lại viện phí lên đến gần $29,000, trong khi bà này đi mua sắm toàn hàng hiệu tại Las Vegas. Câu trả lời của các bà bầu với nhân viên điều tra đều tương tự như nhau và xoay quanh chỉ một chủ đề là nếu mọi chuyện đều tốt đẹp ở Trung Quốc thì họ chẳng cần sang Mỹ.

Nhật báo tiếng Hoa World Journal phát hành ở Mỹ cho biết vào tháng 10, 2014 nhân viên di trú ở sân bay Los Angeles đã phỏng vẫn kỹ khách du lịch Trung Quốc đang mang bầu, và nhiều bà đã buộc phải bay trở về quê nhà cũng trên chuyến phi cơ đã đưa họ đến Mỹ.
Hiện không được biết bà bầu nào được phép ở lại để sanh con, bà nào phải về nước và liệu con cái của các bà bầu trước đây có bị tước tịch hay không. Tuy nhiên hệ lụy tức thì của dịch vụ du lịch sanh con trái phép này là tất cả nhân viên di trú tại các cửa khẩu được chỉ thị phải duyệt xét kỹ ngày sanh nở của các bà bầu, chương trình du lịch cụ thể, kể cả bảo hiểm y tế trước khi đóng dấu cho nhập cảnh Hoa Kỳ.

Tuesday, February 24, 2015

Thất Bại Sau Cùng Của Ngô Đình Diệm



Lâm Văn Sang

Tường trình, ghi chép lại quá khứ không phải lúc nào cũng là chuyện dễ dàng. Bài học vỡ lòng dành cho một sử gia thận trọng, được chỉ dẫn khi còn ở trường ốc, là cái khoảng cách thời gian cần phải có trước khi một giai đoạn lịch sử nào đó, một biến cố nào đó, ở đâu đó trên thế giới này, một quyển sử nghiêm chỉnh được viết ra. Người ta lo sợ rằng ở một khoảng cách quá gần, ở một biến cố vẫn còn quá mới, người viết sử dễ đánh mất đi sự khách quan, vô tư của mình. Cái khoảng cách an toàn này là bao xa, dường như chưa ai định rõ. Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua sau khi chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt. Liệu cái khoảng cách thời gian này có đủ cho một quyển sử không thiên lệch về cuộc chiến này được viết ra?


Cho đến nay, bất cứ một quyển sách nào trình bày lại giai đoạn lịch sử nói trên đều không tránh khỏi trở thành một đề tài tranh cãi. Con đường đi đến sự thật lịch sử có phải vì vậy ngày càng xa hơn? Quyển Diem’s Final Failure: Prelude to America’s War in Vietnam của Philip E. Catton, giáo sư phụ giảng về sử của Stephen F. Austin State University, do nhà xuất bản Đại Học Kansas phát hành năm vừa qua, dường như đã thu ngắn con đường này lại, một phần.

Tác phẩm là một quyển sách mỏng, 298 trang, nếu so sánh với nhiều tác phẩm sử khác xuất bản gần đây ở Hoa Kỳ, với 85 trang dành cho chú thích, sách tham khảo, phần chỉ dẫn danh mục. Tác giả, ông Catton, trong lời nói đầu, đã giải thích quyển sách khởi đầu từ luận án tiến sĩ của ông với đề tài về Ấp Chiến Lược được thực hiện ở miền Nam trong thời gian 1961-1963.

Quá trình nghiên cứu, sưu tập tài liệu đặt ông trước nhiều câu hỏi không có câu trả lời về cá nhân ông Ngô Đình Diệm, khiến ông phải xét lại diễn tiến của mối quan hệ Mỹ-Việt từ 1954 cho đến 1963. Ông không chấp nhận quan niệm phổ biến của Tây phương (một thứ phán xét duy nhất, tuyệt đối, và sau cùng) coi họ Ngô như là "nhà nho cuối cùng" hay "một ông quan phong kiến." Ông cũng không chấp nhận cái hình ảnh tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức để đơn giản kết án chính quyền, chính thể ở miền Nam có tính đàn áp, là biểu hiện của sự phá sản về chính trị và đạo đức. Để làm sáng tỏ được điều này ông thu thập tài liệu không phải chỉ ở về phía Hoa kỳ và Tây phương mà còn cả tài liệu bằng tiếng Việt ở cả hai miền Nam và Bắc. Phần lớn tài liệu tiếng Việt do chính ông phiên dịch ra tiếng Anh. Diem’s Final Failure là câu trả lời trước hết cho chính ông về giai đoạn lịch sử đó.

Tác phẩm đặt trên chủ điểm "người Việt và người Mỹ không hiểu nhau." Và "sự xung đột trong quan hệ Mỹ-Việt tiêu biểu cho sự chạm trán giữa hai nhãn quan xây dựng đất nước và phương cách hiện đại hóa Nam Việt Nam." Nhưng Catton không phân tích chế độ của Ngô Đình Diệm như là lịch sử của chính sách đối ngoại Mỹ mà dựa vào văn bản của lịch sử Việt Nam hiện đại. Người Việt không phải là kẻ đứng bên lề lịch sử, họ góp phần tạo nên lịch sử đó. Tác phẩm không đi tìm cách trả lời cho câu hỏi vốn vẫn được nhiều người quan tâm về giai đoạn lịch sử này, chẳng hạn như ai ra lệnh lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, ai ra lệnh hạ sát anh em ông Diệm. Tác phẩm vẽ ra một bức tranh tương đối toàn diện hơn về tình hình miền Nam từ chính trị, quân sự cho đến văn hóa, đời sống. Bức tranh đó không phải vì vậy nhất thiết chỉ tô son điểm phấn cho chính quyền miền Nam hay thần thoại hóa lãnh tụ của chính quyền đó.

Thất bại của chính quyền Đệ nhất Cộng hòa đến từ nhiều phía. Ấp chiến lược sau những thành tựu ban đầu tạo thật nhiều khó khăn cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) đã tỏ ra không đứng vững được trước sự xâm nhập thêm người và vũ khí từ miền Bắc (tác giả dùng cả chương sách nói về tỉnh Bình Dương ra làm thí dụ). Kế tiếp, cuộc khủng hoảng Phật giáo tại các thành thị miền Nam đã làm căng thẳng thêm mối  quan hệ Mỹ-Việt. Sài Gòn của năm 1963 là cái nôi của mọi tin đồn lớn nhỏ khác nhau.

Philip E. Catton ghi nhận trên tờ Times of Viet Nam một bài viết có thể là của bà Ngô Đình Nhu kết án CIA tìm cách lật đổ chính phủ. Trong khi đó ông Nhu công khai đề cập đến việc miền Nam cần phải tiết kiệm và bảo toàn tài nguyên chuẩn bị cho tình trạng tự lực khi cần. Tin tức chính quyền họ Ngô tìm cách liên lạc và nói chuyện với phía Hà Nội như đổ thêm dầu vào ngọn lửa của tình hình. Thực hư thế nào, đến nay vẫn chưa rõ.

Theo tác giả có thể chính quyền miền Nam chỉ dùng tin đồn này để làm giảm bớt áp lực của Hoa Kỳ. Điều này thật ra đã không cải thiện được mối bang giao giữa Sài-Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Cuộc khủng hoảng chính trị đó đã gây phương hại đến nỗ lực quân sự của chính quyền ở miền Nam nhưng Ấp chiến lược chỉ thực sự đổ vỡ hoàn toàn sau khi tổng thống Diệm bị lật đổ và chính quyền mới đã không có một chính sách nào rõ ràng sau đó. Cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm còn mang lại nhiều hậu quả khác, trong đó có sự can dự của người Mỹ vào chiến tranh Việt Nam ngày càng nặng nề hơn.

Diem’s Final Failure hẳn nhiên không phải là câu trả lời làm hài lòng tất cả mọi người. Edward Miller, một tiến sĩ sử học khác của Đại học Harvard, cho rằng trường hợp thất bại của kế hoạch Ấp chiến lược ở Bình Dương không chứng minh được điều tác giả muốn chứng minh và sự thất bại của Ấp chiến lược ở nơi đây không tiêu biểu cho kế hoạch này trong cả nước.
Tác phẩm ít nhất đã chứng minh được một điều mà Catton trích lại trong phần kết luận cuối sách như sau: "Người Mỹ và người Việt đi trên cùng một chiếc xe, nhưng tình trạng bất hòa thường xuyên xảy ra về chuyện ai lái xe, đi về đâu và sử dụng lộ trình nào để
đến đó."

Diems Final Failure: Prelude
to Americas War in Vietnam.
Philip E. Catton. University
Press of Kansas, Lawrence
(Kansas), 2002.

                                                                              Bài  được đăng trên Viet Mercury số 250 11/07/2003

Friday, February 20, 2015

Du Xuân Với Legging



Đức Hà

Ngày Xuân, ngày Tết ở Mỹ chẳng ai mặc áo dài ngoại trừ mấy nàng đi thi hoa hậu. Vậy thì đề nghị các chị, các cô, các em gái hãy chơi chiếc quần legging du xuân Ất Mùi. Lý do là vì phong trào thời trang legging đang nở rộ và tràn lan khắp mọi nơi, khắp mọi cộng đồng, khắp mọi sắc tộc, không phân biệt màu da, chính kiến hay tôn giáo. Bất kể người trong nước, người ngoài nước, đầu trên xóm dưới đều một lòng vì legging.Vì sự tiện lợi, dễ mua, dễ mặc và dễ khoe nhiều ... thứ trên cơ thể nên chiếc quần legging đã hầu như đánh bạt quần jean thông dụng ra khỏi tủ quần áo hàng ngày của phái nữ.
Legging - còn được gọi là quần yoga hay jeggings, là loại quần Tây bằng vải thun spandex mà khi mặc vào nó bó sát lấy cơ thể, sát đến độ không thể nào sát hơn được nữa. Nói một cách cụ thể và mô tả một cách chân thật không kiểm duyệt cắt xén đục bỏ thì đó là chiếc quần ôm chặt lấy phần mông, phần đùi và cặp giò. Nếu chẳng may người nào có cặp mông to đùng, bự chần dần, nhúc nhích mỡ hay nẩy nở đều đặn tròn trịa đều bày hàng vô tư để bàn dân thiên hạ, ông đi qua bà đi lại ngắm khen hay nhìn chê bai xuyên qua cái legging. Từ mông xuống là cặp chân - có thể dài miên man, dài vô tận hay ngắn ngủn to béo như chân voi cũng "sô" ra hết với legging. Hai ống chân, cho dù thẳng tuột, cong vòng kiền hay ốm như cậy sậy cũng không che dấu được với legging. Vì legging bó sát mông nên kích thước, hình dáng nội y hiện lên rõ mồn một: low cut, high cut, thong hay string tùy hỷ.

Đó là cái nhìn từ phía sau; nếu nhìn từ phía trước thì sao nhỉ? Bụng mỡ, eo thon, rắn chắc, rốn tròn, lồi lõm hay sâu hoắm đều sờ sờ ra đó. Bởi vậy, tuyệt vời, thô bỉ hay phản cảm là tùy suy nghĩ hay suy diễn tưởng tượng của từng cá nhân. Không ai phê bình giống ai. Nhìn trực diện (lén thôi đấy) một người nữ mặc legging thì không thể nói có một "co-men" chung chung được. Nói chẳng hạn cái khu tam giác nhậy cảm vốn Trời cho mà Hồ Xuân Hương gọi là cái quạt thì đúng là cái quạt, không sai vào đâu được.

Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa ...

Chỉ liếc sơ qua cũng thấy đó là cái quạt với khe suối nước trong veo:

Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom...

Nhìn thấy khe rồi và chỉ cần thêm chút tưởng tượng thì nó ra như thế này đây:

Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố dương ra biết mấy ngoàm.
Lườn đá cỏ leo, rờ rậm rạp.
Lách khe nước rỉ, mó lam nham.

Vì legging quá lộ liễu, quá sexy, có (quần) cũng như không tuy không mà là có nên Dân Biểu David Moore của bang Montana vừa đệ trình dự luật cấm triệt legging nơi công cộng.

Luật HB 365

Từ trước đến nay Montana đã có luật giới hạn phơi bày cơ thể đến mức độ nào rồi; thế nhưng xã hội tiến hóa y phục cũng ngày càng tiến bộ thế nên một vị dân biểu tiểu bang bèn đưa ra đạo luật bổ xung luật cũ. Luật cũ cấm cả nam và nữ ở trần nơi công cộng, luật mới mở rộng điều khoản đó và ghi rõ thêm chi tiết là tất cả những loại y phục khi mặc vào cho cảm tưởng như toàn bộ khu vực tam giác vàng, bộ phận sinh dục, mông má, hay hai cái núm trên người phụ nữ hiện ra như thật - tức là quần áo bó sát, đặc biệt màu beige đều bị nghiêm cấm.
Ông Moore nói với hãng tin AP rằng phải cấm mặc loại quần yoga ra đường.
"Tôi muốn bang Montana phải là nơi lịch lãm trong sáng nơi người dân biết tôn trọng luật pháp và bảo vệ con trẻ và người khác chống lại những kiểu cọ khiếm nhã và suy đồi."
Đây không phải lần đầu tiên loại quần áo thể thao va chạm với luật pháp Montana. Mùa thu vừa qua trường trung học Skyview High School tại thành phố Billings đã hiệu đính nội quy và nhấn mạnh: "Leggings, jeggings và quần bó sát (kiểu vũ công ballet mặc khi lên sân khấu) không được gọi là quần và phải mặc chung với quần ngắn (short), váy, áo đầm hay quần Tây dài." Trường đưa ra quy định mới vì legging ảnh hưởng xấu đến việc học hành của nam sinh.
Thế là chiếc quần thun bó sát trở thành trận chiến giữa nhà trường và học sinh nữ. Việc trường quyết tâm duy trì kỷ luật về cách phục sức trong khuôn viên học đường đã đưa đến hàng loạt những vụ phản ứng đôi co suốt từ miến Đông sang miền Tây. Mùa xuân vừa qua các teen ở Illinois đã phản ứng bằng cách rủ nhau cùng mặc legging đến trường và dương cao bảng có hàng chữ như "Không lẽ cái quần của chúng tôi làm giảm điểm học vấn hay sao?"

Như mọi người đều biết ở Mỹ, ngoại trừ trường tư buộc học sinh phải đồng phục đồng loạt, còn trường công thì mỗi trường đều có nội quy riêng về quần áo. Chẳng hạn những kiểu áo hai giây bé tí như sợi mì, áo hở rốn, quần short quá ngắn, quần tây xệ dưới mông, áo thun có in hình vũ khí, rượu bia, hay dép lê ... đều được liệt kê vào danh sách những kiểu cọ cấm nơi sân trường. Nay thì legging trở thành nạn nhân mới nhất của các ban giám hiệu. Một học sinh nữ trường Skyview bộc bạch rằng việc cấm này vô duyên. "Ai mà chẳng có cặp mông. Không lẽ mông phái nữ lại cản trở việc học hành. Thật là vô duyên. Hễ bất cứ điểm nào trên cơ thể phụ nữ được nhấn mạnh là bị cấm sao?" Cô này không quên nhắc nhở: "Thế còn con trai mặc áo T-shirt sát nách sao không cấm đi." Và kết luận: "Bất cứ ăn mặc kiểu nào cũng không nên cấm, miễn là đừng phơi bày nội y ra là OK."
Phía nhà trường nhất quyết bênh vực lệnh cấm và cho hay nhà trường là cơ sở giáo dục như vậy buộc học sinh phải tuân thủ nguyên tắc nào đó cũng là giáo dục.

Thật ra Montana đi tới chỗ ban hành những luật lệ ngặt nghèo là vì hồi tháng Tám vừa qua, nhóm đi xe đạp Bare as you Dare đã làm cư dân Missoula muốn điên đầu khi cùng nhau đạp xe, trần như nhộng ngang nhiên giữa ban ngày ban mặt ngay trung tâm thành phố. Lãnh đạo thành phố e ngại vi phạm quyền tự do phát biểu nên đã buộc lòng phải cấp giấy phép cho họ diễn hành. Hẳn nhiên vụ đạp xe không mảnh vải che thân đã làm không ít cư dân địa phương bức xúc và phản ứng. Ông Moore đã cấp tốc soạn thảo luật HB 365 để từ nay về sau tránh được cảnh nhức nhối khó coi.
Bản tin của AP kết luận rằng nếu không có chuyện cấm đoán legging thì chẳng thành vấn đề; nay legging trở thành chuyện lớn nên tự nhiên phái yếu cả nước đã cũng nhau đoàn kết quyết tâm bảo vệ quyền lợi trong việc ăn mặc. Vì chiếc quần yoga (dùng khi tập yoga) cho dù đại đa số chẳng theo phái "Om" chút nào thì mặc quần yoga phải công nhận là rất thoải mái, gọn nhẹ, không nhăn, dễ giặt mau khô, và chẳng bao giờ cần ủi. Tiết kiệm thời gian, tiết kiệm ngân sách gia đình mà lại rất thời thượng nữa. Chẳng thế mà doanh số của các nhà bán lẻ bán legging đã tăng vọt - hàng nhập không đủ bán, hàng chưa về đã phải treo bảng "Hết Hàng" đưa đến hệ quả là lượng quần jean bán ra đã lần đầu tiên bị giảm sút từ hơn chục năm nay.

Đã có luật đương nhiên phải kèm theo hình phạt. Sau ba lần vi phạm mặc legging nơi công cộng, thì án phạt lên đến 10,000 đô (mười ngàn) và tù ở suốt đời. Để khuyến dân Montana tuân hành luật pháp, Dân Biểu Moore đề xuất giảm còn 5,000 đô và 5 năm tù. Vi phạm lần đầu 500 đô cộng sáu tháng tù; lần hai 1,000 đô hoặc một năm tù.

Đẹp Khoe

Quan niệm đẹp khoe xấu che đã quá xưa. Nên trả cho quá khứ cái gì của quá khứ. Thời buổi hôm nay là vô tư vén áo cho người xem lưng; đẹp khoe không nói, xấu cũng khoe luôn. Nhưng ban hành luật cấm có vẻ đi hơi quá, phải không bạn. Đây là một vi phạm trắng trợn, thô bạo và có hệ thống vào quyền chọn quần áo của phái đẹp. Người ta đi tập yoga xong thì xẹt ra chợ mua con cá, bó rau, ghé qua trường đón con, tạt vào café giải khát, đôi khi đột xuất đột nhập sở làm kiểm soát xem ông chồng có chăm chỉ làm việc hoặc bạn trai có đang ve vãn cô thư ký trẻ hay không... trước khi về nhà thì đã có sao nào mà nay lại bày đặt cấm với đoán.

Cali ta thì rất rộng lượng trong vấn đề thời trang. Quí đồng hương nữ tha hồ legging, jegging chẳng ông nhà nước nào bận tâm hay đặt vấn đề đạo đức thẩm mỹ chỉ có điều nếu du lịch Montana thăm bà con thì hãy suy nghĩ lại.