Wednesday, September 8, 2010

Could Viet Nam be America’s New Counterweight to China?

Lam Quang Thi

When Hillary Clinton told the ASEAN regional forum in Hanoi last July that it was in the United States’ interest that sovereignty issues in the Eastern Sea be settled by negotiations, not force, it sent a shockwave through the region. Unlike her husband’s conciliatory stance vis-à-vis an expanding China, the Secretary of State seemed ready to challenge China’s dominance in the Eastern Sea when she declared, “We oppose the use or threat of force by any claimant.” Now the United States is making good on its promise by engaging in joint military exercises with China’s neighbor, Viet Nam.

Her declaration struck a special chord in Viet Nam, the country most affected by China’s aggressiveness. Viet Nam’s skirmish with China resulted in the near depletion of Viet Nam’s navy in 1988.

The Chinese navy, in fact, frequently killed or harassed Vietnamese fishermen operating within Viet Nam’s territorial waters. These incidents added to a consistent pattern of Chinese expansionism: conquest of the Paracel Islands in 1974; occupation of the Spratly archipelago in 1979; and annexation of the 12,000 square meters of territorial waters in the Vinh Bac Bo (Gulf of Tonkin) conceded by Hanoi, under the 2000 Vinh Bac Bo Pact.

Young Vietnamese flocked to Internet chat rooms to hail the new U.S. assertiveness as a necessary counter-weight approach to Chinese expansionism. One reporter wrote that Hillary Clinton’s statement “lit up the faces of people deadlocked and saddened by the risk of losing the country entirely.” One Vietnamese journalist reported that he would write a letter to President Obama to commend him for his firmness in dealing with the new Chinese threat in South-East Asia.

To add teeth to Clinton’s statement, the heavily armed super aircraft carrier, George Washington, made its way through the Eastern Sea along Viet Nam’s coast in August -- after a high profile exercise with the South Korean navy following the sinking of a South Korean warship allegedly by a North Korean torpedo. A group of high-ranking Vietnamese military and civilian officials was flown onto the aircraft carrier cruising 200 miles off the port of Danang, the site of the landing of the first contingent of American marines in March 1965. Two days after the George Washington stop, on August 10, the USS John McCain destroyer paid a port call to Danang to participate in training exercises with the Vietnamese navy.

However, what angered China most was not the U.S. navy port calls to Viet Nam but reports of a controversial U.S.-Viet Nam nuclear fuel and technology deal that could allow Viet Nam to enrich uranium on its soil. A nuclear-armed Viet Nam, in the long run, would constitute a far more formidable deterrent to China’s territorial ambitions than it is now.

Lost amid the new geopolitical realignment and rising US-Sino tensions in South-East Asia, however, is the fact that Viet Nam is itself caught in an insoluble political dilemma. There is a saying in political circles in Viet Nam that if you appease China you lose the country, but if you follow the United States you lose the Communist Party because the influx of new ideas, technology and money would accelerate a democratization that could ultimately bring down the corrupt and unpopular regime.

For Viet Nam communist leaders, it is a lose-lose situation because the continuous erosion of the nation’s territorial integrity could trigger a popular uprising and even a revolt within the army that had fought a bloody border war against China in 1979 and has grown increasingly frustrated with the party leadership’s subservience to Viet Nam’s historic enemy to the north.

As for the United States, it is once again in a position to exert its leverage in this strategic area of the world. By conditioning the granting of military support on the improvement of Hanoi’s human rights record, the United States could help ensure a free and democratic Viet Nam that would be better able to stand up to Chinese expansionism.

Ironically, 35 years after its humiliating defeat, the United States – without firing a shot -- is closer than ever to realizing its original goal of an independent and non-Communist Viet Nam for which 58,000 Americans and hundreds of thousands South Vietnamese have given their lives.

Thi Lam, a former general in the South Vietnamese army, is the author of "The Twenty-five Year Century: A South Vietnamese General Remembers the Indochina War to the Fall of Saigon" and most recently, "Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam."

Thursday, September 2, 2010

Trần Thị Hoan: Người Nhiều May Mắn

Đức Hà

LÀNG HÒA BÌNH II, Vietnam – Khi Trần Thị Hoan thức giấc vào mỗi buổi sáng để bắt đầu một ngày mới đầy sức sống thì Hoan là một cô gái hạnh phúc và may mắn hơn rất nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng lại không có cơ hội sống đến ngày mai. Thật vậy, ngoài việc được đi đây đó – kể cả đi Mỹ, Hoan sẽ tốt nghiệp ngành công nghệ tin học trong tháng này, và nếu không có gì thay đổi cô sẽ cộng tác với công ty Nokia Việt Nam. Rõ ràng Hoan có một cuộc sống. Ít ra thì Hoan cũng “tạm” gọi là một con người, biết nói, biết tư duy, biết giận, buồn, vui … cho dù Hoan được xem là một nạn nhân Da Cam, một hóa chất khai quang độc hại sử dụng trong chiến tranh.
“So với các em ở tại Làng Hòa Bình, cũng như ở các nơi khác thì Hoan là người may mắn nhứt, có bạn bè để chia xẻ niềm vui và được học hành đầy đủ,” cô gái 23 tuổi giải bày từ Làng Hòa Bình bên trong Bệnh Viện Từ Dũ, nơi cô về sống từ 16 năm nay. Làng Hòa Bình được thiết lập nhiều nơi ở Việt Nam, là một hệ thống cơ sở chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ khuyết tật – đa phần được cho là bị phơi nhiễm Chất Da Cam/dioxin.

Chân Dung

Trần Thị Hoan ra đời tại Đức Linh, thuộc tỉnh Bình Thuận. Cô giải thích:
“Mẹ sinh hai chị gái và một anh trai, tất cả đều giống như mọi nguời, đầy đủ chân tay. Thế rồi một hôm khi làm rẫy, mẹ cuốc nhằm một thùng sắt xì ra mùi khó chịu và ngã bệnh. Sau đó mẹ được đưa đến trạm xá khám thì biết đang mang thai.”
Thai nhi đó sau này mang tên Trần Thị Hoan.

Tất cả các bộ phận cơ thể, cho đến nay đều bình thuờng ngoại trừ Hoan không có hai chân và thiếu hẳn một phần cánh tay trái. Không rõ vì hít nhằm hơi độc nên sau đó người mẹ sanh con dị tật hay có thể bị nhiễm độc ở một nơi khác nhưng Hoan ra đời như vậy, và vào thời điểm đó chẳng ai biết Da Cam là gì và Hoan không phải là một trường hợp cá biệt. Phải nhiều năm sau, Bác Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, một thành viên của Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam mới xác định là Hoan bị ảnh hưởng của hóa chất khai quang. Không rõ có bằng chứng khoa học nào kết nối hơi (độc) từ thùng sắt và việc sanh con dị tật của bà Bùi Thị Nguyên, mẹ của Hoan nhưng hai lần Hoan được cử đi Mỹ với tư cách là nạn nhân Da Cam.

Cho đến năm tám tuổi khi về sống trong Làng Hòa Bình ở Sài Gòn thì lúc đó Hoan mới có dịp tiếp cận với 60 em cùng hoàn cảnh với đủ các thứ bệnh và dị dạng như đầu phồng to, trán rộng quá khổ, không mắt, tay chân co quắp, không biết nói, chỉ nằm, không ngồi, không đứng, hư cột sống, không hậu môn … Những em này sống như vậy cho đến ngày chết hoặc chết bất cứ lúc nào vì một căn bệnh ung thư nào đó.
Việt Nam ước tính hiện có khoảng ba triệu người trong đó có 150,000 trẻ em bị ảnh hưởng Da Cam. Họ là con của binh sĩ miền Nam trước đây, của dân thường và dĩ nhiên cả con em của bộ đội từng tham gia đội quân giải phóng miền Nam. Con số 150,000 có thể chưa hoàn toàn chính xác – vì nhiều trẻ đã chết hoặc sinh sản thêm, nhưng nói rằng tất cả là nạn nhân Chất Da Cam thì cũng không có chứng minh khoa học chính xác.

Vì muốn có thêm một con trai nữa để đỡ đần khi về già, hai năm sau mẹ Hoan sanh một em trai. Bé này bị hội chứng thoát vị thành bụng (không có thành bụng) và tử vong ngay sau khi sanh. Đến năm 1990 mẹ Hoan sanh thêm một trai hoàn toàn bình thường. Khi gia đình Hoan không làm rẫy trên vùng đất đó nữa và một gia đình khác lại đến làm rẫy ngay tại đó thì không lâu sau người mẹ sinh hai con đều không phát triển chiều cao (khoảng 1,2 mét) nằm liệt giường, không nói được và thường xuyên bị nhức đầu, nhứt là khi thời tiết thay đổi; đứa kia ngủ suốt và bị suy dinh dưỡng. Hoan kể lại.
Cho đến bây giờ liệu vùng đất đó có bị cấm trồng trọt chưa là câu hỏi không có trả lời. Việt Nam không biết nơi nào bị rải thuốc, nơi nào từng là nơi tồn trữ thuốc khai quang cho đến khi nhận được các tài liệu của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Chỉ vào lúc đó người dân định cư, sinh hoạt, ăn và uống hàng chục năm ngay trên vùng độc hại gần hay ngay trên các “điểm nóng” như sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát và nhiều nơi khác mới bị giải tỏa và di dời đi nơi khác.

Điều Trần

Trần Thị Hoan đi Mỹ lần đầu năm 2008 trong chuyến đi đòi hỏi công lý và tham gia các buổi tọa đàm tại 10 thành phố Mỹ. Lần hai vào tháng Bẩy vừa qua, cô được mời với tư cách là đại diện cho nạn nhân Da Cam Việt Nam. Tại Hạ Viện Mỹ, Hoan nói:
“Khi còn bé, tôi gặp nhiều khó khăn khi chơi đùa với bạn cùng lứa hay đi học. Vào lúc đó, không ai hiểu về Chất Da Cam. Người ta nghĩ rằng tình trạng của tôi là do nghiệp chướng của gia đình. Tuy nhiên khi về Sài Gòn sống chung với nhiều trẻ em khác tôi nhận thấy nhiều bạn đã qua đời chỉ vài năm sau khi sanh hoặc sống tật nguyền ít lâu rồi cũng chết.” Cô cho biết tiếp:
“Nạn nhân Chất Da Cam chết mỗi ngày và rất cần sự chăm sóc cùng giúp đỡ tức thì và Làng Hòa Bình nơi đã giúp các nạn nhân rất nhiều về vật chất và tinh thần không thể nào có khả năng chăm sóc nhiều trẻ hơn nữa và hàng trăm ngàn con người như vậy không được chăm sóc y khoa hầu như chỉ chờ ngày chết.”
Sau cùng thay mặt các nạn nhân Da Cam/dioxin, cô đặt vấn đề:
“Chúng tôi muốn rằng những người chịu trách nhiệm gây ra hậu quả kinh hoàng từ Chất Da Cam hãy lắng nghe những đớn đau khốn khổ của chúng tôi và có hành động đáp ứng. Các hãng sản xuất hóa chất và chính phủ Mỹ từng cho rải chất này phải có hành động đúng đắn. Đây là một vấn đề công lý và nhân đạo…”

Không chỉ điều trần trước Hạ Viện Mỹ, năm 2009 Trần Thị Hoan còn viết cả thư ngỏ gởi Tổng Thống Hoa Kỳ. Thư có đoạn:
“Xin nói riêng về bản thân tôi: thời đi học phổ thông, tôi từng mơ ước sẽ trở thành bác sĩ để về giúp bà con quê tôi vì quê tôi còn nghèo, nhưng tôi đã không thể thực hiện ước mơ ấy vì chất độc Da Cam đã cướp đi đôi chân và bàn tay trái của tôi, khiến cha mẹ tôi phải rơi bao giọt nước mắt vì xót xa trước hình hài của tôi; và ông nghĩ như thế nào nếu đến thế hệ con của tôi cũng bị như tôi, cũng bị cái thứ chất độc chết người ấy cướp đi hình hài nguyên vẹn, và biết đâu sẽ cướp luôn cả tính mạng của nó (nếu tôi lập gia đình)? Điều này tôi chỉ nói riêng về tôi, nhưng chắc cũng đủ để ông hình dung ra được những nỗi đau của bao bậc cha mẹ khác. Ông đã là cha của hai cô con gái xinh đẹp, hẳn ông rất hiểu tình yêu thương của các bậc cha mẹ dành cho con mình…”

Để giải quyết bóng ma chiến tranh còn sót lại giữa hai nước Việt – Mỹ, Nhóm Đối Thoại Việt Nam - Hoa Kỳ gồm các khoa học gia, người dân thường cùng với các nhà hoạch định chính sách vừa phổ biến một kế hoạch hành động kêu gọi chính phủ Mỹ và các nhà hảo tâm đóng góp một ngân khoản ước lượng 30 triệu đô-la mỗi năm trong vòng 10 năm tới để làm sạch môi trường bị nhiễm chất khai quang. Ngân khoản cũng được dùng để chữa trị và trợ giúp những nạn nhân bị nghi ngờ có liên hệ đến phát minh được báo Time liệt kê trong 50 phát minh tồi tệ nhất sau thuốc diệt sâu DDT.

Sunday, August 29, 2010

Về Lại Bển



Đức Hà

NỘI BÀI, Hà Nội - Không hiểu vì lý do gì, mỗi lần gặp một bạn cũ tại Sài Gòn thì trăm lần như một, chỉ nghe hai câu hỏi: “Yìa hồi nào? Chừng nào yìa bển?” Chớ có ai hỏi về làm gì, ở bao lâu, hay rủ rê vui chơi ăn nhậu. Trong khi tôi chỉ muốn người ta hỏi thời tiết có nóng quá không, ngủ được không … đại loại như vậy để tôi thở than cho bõ. Nóng thấy ông bà tổ, nóng gì mà nóng khủng, nóng điên cuồng, nóng vượt chỉ tiêu. Không tin hãy cứ thử ngồi xe ôm kẹp giữa rừng rừng xe gắn máy – từ xe có số đến xe tay ga từ 110 đến 150 cc, phun hơi nóng như thiêu như đốt thì nhiệt độ 32 độ C ngoài trời của Sài Gòn đã trở thành phòng xông hơi … không có mùi lá bạc hà. Thế là chỉ ba ngày sau khi xông đất Sài thành, cổ bắt đầu đau rát, người lừ đừ muốn sốt, đầu nhức như búa bổ, nước mủi chảy không ngớt. Cảm nắng. Thế là bèn đi giác hơi.

Ở đâu, cái gì không biết thì hỏi Gu-Gồ, ở Sài Gòn cái gì không biết cứ hỏi … xe ôm. Tôi được đưa đến một căn nhà nhỏ, thật nhỏ, chật thật chật bên trong con hẻm cạnh một ngôi chùa. Trên cái diện tích sàn nhà bé tí ti có bà cụ đang ngủ vùi, cạnh đó cậu con trai xem phim Tam Quốc Chí tập III, chỉ còn đúng mấy viên gạch vừa đủ chỗ cho tấm nệm mỏng. Tôi cởi áo nằm úp mặt xuống nệm (thấm đậm mồ hôi của nhiều bệnh nhân) để chuyên viên giác hơi vặm vỡ, lưng trần, người đầy những vết thâm do ống giác, bắt đầu quần quật trên lưng. Anh ta dùng cọng thép cột bông gòn thấm cồn và cứ thế châm lửa cho vào ống đốt dưỡng khí (và sát trùng?) rồi chụp nhanh trên lưng. Chỉ một lát sau, lưng tôi đeo một loạt ống giác thủy tinh hút phồng những mảng da và chuyển từ màu hồng, sang đỏ và bầm tím. Tôi hỏi “Có gió không anh,” và được chuyên viên (chắc chắn là không có bằng hành nghề) giải đáp như một bác sĩ y khoa 25 năm kinh nghiệm: “Anh mà để tới ngày mai là tiêu.” Tôi không hỏi tiếp “tiêu” là như thế nào có phải là “tiêu tùng hay tiêu diêu.” Nhưng sau chừng 20 – 30 phút tẩm quất, giác hơi và xoa bóp thì rõ ràng tôi cảm thấy thơ thới, mũi thông thoáng, nhẹ người hơn. Về nhà không quên bồi thêm Tylenol và Vitamin C chuẩn bị từ bên bển và đến sáng hôm sau lại cỡi xe ôm đi vùng xa, vùng trong cho công việc. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là cái nón (mũ) bảo hộ khi sử dụng xe ôm. Lái xe luôn luôn có sẵn nón phụ để cho khách mượn và cái nón đó có thể đến … 86 triệu người đã xài qua rồi. Đội hay không tùy bạn, nhưng không đội thì xe không chạy.

Tôi đến Hà Nội vào lúc thủ đô chuẩn bị kỷ niệm 1,000 năm. Thật tình không biết nghìn năm trước Thăng Long như thế nào – cụ rùa Hồ Gươm may ra có thể biết, nhưng Hà Nội hôm nay cũng như Sài Gòn đang tiếp tục vươn cao hơn và mở rộng hơn bằng cách đập sạch, phá sạch để xây mới. Đường phố lúc nào cũng nghẹt xe, kẹt xe, không ngớt tiếng còi xe: dường như người ta không thể không bóp còi để rồi chẳng ai chịu nhường ai. Người dân địa phương quá quen với tiếng ồn xe lại nhìn Thăng Long đổi mới ở góc độ bức xúc khác, nhưng rất Hà Nội: “Sau khi đập tan được chế độ phong kiến, ta lại thay bằng chế độ phong … bì – vui vẻ cả làng và đôi bên cùng có lợi.” Tuy vậy không phải tất cả đều lấp ruộng xây nhà, đập cũ xây mới, thế nên tại một công viên trên đường Điện Biên Phủ, lãnh tụ V.I Lê Nin vẫn còn đó. Ông đứng hùng dũng tay phải vạch áo từ 2003 đến giờ. Trong di sản của ông có thư viết ngày 19 tháng Ba, 1922 gởi ông Molotov và thành viên Bộ Chính Trị, trong đó ông vạch ra một kế hoạch hành động đầy bạo lực chống lại giới tăng lữ cùng các môn đệ có ý thách thức quyền lực của nhà nước Sô-Viết. Thư có đoạn: “Chúng ta phải … cương quyết và tàn nhẫn dẹp tan mọi chống đối một cách hung bạo để họ không thể nào quên trong hàng chục năm tới. Chúng ta càng triệt hạ được bao nhiêu đại diện giới tăng lữ và giai cấp tư sản phản động thì càng tốt bấy nhiêu …” Sao lại có người ác thế hả giời!

Trong thời gian làm việc tại Việt Nam các nhà báo, các giới chức ở đây mà tôi có dịp tiếp xúc đều mong tôi có nhiều bài viết để người Mỹ (và Mỹ gốc Việt) hiểu hơn về hậu quả độc hại kéo dài của Chất Da Cam. Và có lẽ sợ người Mỹ không hiểu nên phía Việt Nam dự kiến sang năm đâm đơn kiện nữa và hiện đang chuẩn bị chứng cứ thủ tục. Cả ba lần trước kiện tại tòa New York để đòi bồi thường đều bị bác đơn, lần này Việt Nam sẽ kiện tại một bang khác. Việc ai làm thì cứ làm, nhưng phải thú thật rằng nhìn thấy hàng trăm trẻ mang đủ thứ hình thù quái dị: không mắt, không hậu môn, không chân, thiếu tay, đầu to … được cho là do tác hại của Da Cam/dioxin, người ta khó có thể không bị xúc động xót xa cho hoàn cảnh đáng thương của những con người vô tội.

Sau cùng trước khi về lại bên kia, tôi muốn nhắn lời cám ơn sâu xa đến các gia đình nghèo và quá nghèo lại phải nuôi con dị dạng, đã không ngại mời tôi về nhà, trả lời những câu hỏi nhạy cảm, rất riêng tư cũng như tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn tất công tác tốt đẹp và thành công. Đa tạ.

Saturday, August 28, 2010

Cái Loa

Trịnh Hội

Sau khi bài viết “Khẩu Hiệu” được đăng, một số bạn đọc có nhắc đến những cái loa phường ở Việt Nam sáng nào cũng được cho ra rả từ Bắc đến Nam để dạy dỗ dân chúng sống sao cho xứng đáng là con dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đúng nghĩa.
Nó làm cho tôi nhớ lại lần đầu tiên tôi về lại Việt Nam để sống và làm việc ở Hà Nội vào giữa thập niên 90. Lúc ấy Hà Nội không giàu có và đường không chật đầy xe hơi như bây giờ. Bước xuống máy bay tại sân bay Nội Bài tôi vẫn còn nhớ là mọi hành khách đều được cho vào một chiếc xe bus cũ như không thể nào cũ hơn được nữa để đến nơi làm thủ tục hải quan. Không những ghế cái thì thủng đáy, cái lại chỉ còn sườn không mà ngay cả tấm sắt to nằm ở phía sau xe để che khuất máy và quạt cũng đã biến mất tự bao giờ. Báo hại mới nhìn vào ai cũng trố mắt ngạc nhiên chẳng biết xe có còn chạy được nữa không!
Và đấy cũng là những hình ảnh đầu tiên đập vào mắt người ngoại quốc vừa đến Việt Nam lúc đó.
Nhưng đối với tôi, điều làm cho tôi nhớ nhất trong khoảng thời gian ấy không phải là một sân bay quốc gia Nội Bài quá cũ kỹ. Hay một thành phố vẫn còn nhiều người dắt con đến từng nhà để xin ăn. Mà là những cái loa sáng nào cũng được cho oang oang từ đầu làng đến cuối xóm bất kể người dân có thích hay không. Hay có hiệu nghiệm gì không trong công việc dạy dỗ con dân theo cách nhồi sọ của Xã Hội Chủ Nghĩa.

Ðặc biệt là cái loa được treo sát cạnh nhà tôi nằm gần góc đường Bà Triệu và Ðại Cồ Việt trong quận Hai Bà Trưng không xa trung tâm quá là bao. Hôm thì loa thông báo về lễ kỷ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân ta. Sang sáng hôm sau thì loa lại nhắc nhở mọi người dân cần phải đi... hốt rác.
Nhưng đáng nhớ nhất là lời thông báo dưới đây mà mãi cho đến bây giờ gần 15 năm sau tôi vẫn còn nhớ như in, từng lời, từng chữ và đặc biệt là giọng đọc đặc sệt của người miền Bắc sau này làm cho tôi không thể nào quên được. Vì nó đã được đọc đi, đọc lại ra rả mỗi sáng trong mấy tháng liền làm cho tôi và chắc chắn là rất nhiều người dân trong quận không thể nào ngủ được. Mặc dù lúc ấy trời chỉ vừa tờ mờ sáng.
Thông cáo được đọc như sau (và xin nhớ là phải đọc với giọng nữ miền Bắc chuẩn sau 1975 nhé):

“Thông cáo, thông cáo, xin thông cáo
Hôm nay ngày mồng chín tháng Ba
Nhân dân quận Hai Bà Trưng chúng ta
Quyết tâm không đẻ sớm
Nam hai mươi nhăm, nữ hai mươi tư
Xin quyết tâm như thế
Thông cáo, thông cáo, xin thông cáo
...”

Thật đấy bạn ạ. Tôi xin thề tôi đã không thêm bớt một chữ nào vào bản thông cáo ấy. Và ‘quyết tâm’ hay ‘không đẻ’ đều là những từ nguyên thủy được dùng để thông báo cho mọi người cùng rõ. Sang hôm sau chỉ có số ngày là được đổi. Còn nội dung thì vẫn được giữ y như thế. Không những vậy vài tháng sau có lẽ vì sợ người dân chưa hiểu thấu, các đồng chí lại cho dựng ngay một khẩu hiệu to đùng nằm ngay giữa đường Ðại Cồ Việt cũng với nội dung tương tự:

“Nhân dân quận Hai Bà Trưng
Quyết tâm không đẻ sớm
Nam hai mươi nhăm, nữ hai mươi tư”

May là lúc ấy tôi cũng vừa ở độ tuổi hai mươi lăm, lại chưa vợ nên đã chăm chỉ nghe lời chỉ dạy quyết tâm không đẻ! Chứ nếu không (nhất là đối với những ai có vợ đang nằm phơi phới bên cạnh) sáng sớm tinh sương đang ngủ say lại bị loa phóng thanh dựng dậy để nhắn nhủ đôi lời, không chừng bực bội lại không có chuyện gì làm khi trời hãy còn quá sớm thôi thì đành quay qua ... làm một cái cho bõ ghét!
Ý tôi nói phản tác dụng là vì thế.
Cho đến bây giờ đôi khi tôi vẫn thắc mắc không biết hàng xóm tôi ở quận Hai Bà Trưng lúc ấy có ai đã từng quyết tâm ... làm một cái cho bõ ghét cái loa không đẻ sớm hay không?

Tuesday, August 24, 2010

Căn Nhà Tôn, Bốn Trái Tim Vàng



Đức Hà

PHƯỚC HIỆP, Củ Chi – Tại ấp Mũi Côn Đại, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi cách Sài Gòn khoảng hơn một giờ xe có một căn nhà nhỏ. Mái và một bên vách lợp tôn, vách kia che bằng lá dừa, phía trước, sau đều chắn bằng lá dừa khô nẹp tre. Khi mưa cả nhà là vũng lầy, mưa tạt từ trước ra sau, từ phải qua trái và phía sau tạt lên. Ấy vậy mà người ta vẫn sống, vẫn phấn đấu, ngày qua ngày bằng một niềm tin. Tôi đến thăm hộ này vào một ngày khô ráo, không mưa nhưng tin chắc nếu mưa thì cả nhà ướt đẫm nước trời. Đó là tổ ấm của Tống Văn Hiếu, 33 tuổi thợ hồ, vợ Đặng Hoàng Oanh, 26, may gia công tại nhà, con trai Tống Quốc Thịnh, 6 tuổi và con gái Tống Diệu Thảo, 3 tuổi.
Anh Hiếu quê Đồng Tháp, chị Oanh sinh trưởng và lớn lên tại Củ Chi, và cả hai đều sinh sau 1975, ấy vậy mà người con trai trưởng – không biết vì lý do gì, có thể bé bị ảnh hưởng do tác nhân Da Cam. Từ sáu năm nay bé Thịnh chỉ nằm ngửa, đầu của bé to như trái dưa hấu, trán rất rộng và nhô ra phía trước, tóc thưa thớt, cặp mắt với hai hàng lông mi cong khiến ai nhìn vào không khỏi giật mình khiếp đảm cho hình thù quái dị của bé.
“Trước khi sanh tui có đi khám thai làm siêu âm, bác sĩ nói thai tốt bình thường, không có gì đáng lo,” chị Oanh kể lại.
Nhưng rồi khoảng một tháng sau khi chào đời, đầu bé bắt đầu phồng to. Ngày càng to và mềm như miếng tàu hũ. Vợ chồng anh Hiếu hy vọng - theo lời chẩn đoán của bác sĩ, là sọ não sẽ cứng lại và thu nhỏ trở lại bình thường.
Sự thật không phải như vậy. Đầu bé không nhỏ lại mà chỉ phồng lên, rồi xẹp xuống tùy theo sức khỏe của bé.
“Khi nào bệnh bỏ ăn thì cái đầu cháu xẹp xuống như bong bóng xì, rồi uống thuốc ăn trở lại thì đầu phồng to lên,” chị mô tả đứa con trai đầu lòng mà hai vợ chồng chị hết sức vui mừng khi chị mang thai, và biết là con trai.

Hàng ngày anh Hiếu đi làm thợ hồ, bạn bè thương tình, nay cho miếng tôn lợp nhà, mai cho mấy viên gạch lót sàn. Và có người cho cả cánh cửa sắt kiên cố, thế nên tại ngôi nhà mái tôn vách lá này lại có cửa ra vào bằng sắt chắc chắn. Trong nhà ngoài chiếc máy may chạy điện, tôi còn thấy cái tivi nhỏ, nồi cơm điện cũ kỹ, dưới bếp có lò ga và vài cây đèn dầu. Ngay cửa vào là trang thờ ông Địa đóng bụi, chẳng khói nhang. Anh Hiếu đi giúp người ta xây nhà gặp đồ phế thải thì lượm về tân trang căn nhà nhỏ, và từ trước ra sau nền nhà đủ loại gạch, trong khi đó chị Oanh ở nhà may gia công làm hàng chợ cạnh chiếc võng có bé Thịnh ngủ vùi. Nếu không bận bịu con, chị Oanh có thể may liên tục và kiếm được khoảng 30 ngàn, anh Hiếu kiếm chừng 130 ngàn, tổng cộng thu nhập hàng ngày của hai vợ chồng là 160 ngàn (tương đương tám đô-la Mỹ/ngày).
“Nếu con không bịnh thì cũng tàm tạm, làm nhiêu ăn hết nhiêu,” chị Oanh nói, không có vẻ gì lo lắng cho lắm vì đồng lương ít ỏi. Dường như đã quá quen với cảnh sống đơn giản và thanh bạch, không thể nào hơn được nữa.
Cũng may còn có miếng đất do bên ngoại cho, nên cũng không phải trả tiền thuê nhà.

Dioxin Từ Đâu

Có điều lạ lùng là cả hai phía, bên nhà chồng lẫn bên vợ, không một người nào sinh con dị tật dị dạng như chị Oanh. Ngay cả người con gái thứ hai Tống Diệu Thảo cũng bình thường. Vậy thì tại sao bé Tống Quốc Thịnh lại có cái đầu to như vậy. Người mẹ không hề biết gì về hóa chất diệt cỏ có tên Da Cam, nhưng cả ba nơi tôi ghé thăm là Làng Hòa Bình trong Bệnh Viện Từ Dũ, hai cơ sở thiện nguyện tư nhân của linh mục Phan Khắc Từ đều có những em có đầu to hệt như vậy. Danh từ y khoa gọi là não úng thủy.
Chị Oanh cho biết là hồi xưa – nghe mẹ kể, Củ Chi là vùng rừng rặm không như bây giờ và là nơi có hầm địa đạo, nay trở thành khu di tích lịch sử. Có thể nói không sợ lầm là vùng này chắc chắn đã bị rải thuốc khai quang làm rụng lá phá rừng. Nhưng ai là người trong gia đình chị Oanh thật sự bị nhiễm chất độc? Người mẹ bị nhiễm rồi sinh ra chị, rồi chị lấy chồng sinh con - con bị. Hay cũng có thể là chính chị ăn nhằm cá, uống nước nhiễm hóa chất dioxin nên truyền cho con. Và dioxin từ đâu ra, từ bột khai quang nay ngấm vào đất hay từ nguồn ô nhiễm nào khác từ các nhà máy thải ra, chẳng ai rõ. Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam ước tính có ba triệu người bị ảnh hưởng bởi Chất Da Cam trong đó có 150,000 trẻ em.
“Ngó vậy chớ nó khôn lắm. Ở nhà tui bực tức nói nặng nhẹ là nó về nó méc ba nó,” người mẹ trẻ nói về con trai đầu lòng lúc nào cũng bám chặt mẹ. Khi nào mắc công chuyện đem sang gởi bên ngoại nó cũng không chịu nên chị Oanh không đi đâu xa được. Chị nói rằng hễ ra khỏi nhà thì nhớ con muốn khóc.
Hỏi chị sao không đem gởi con ở mấy trung tâm nuôi trẻ khuyết tật. Chị trả lời:
“Thương lắm, đem gởi sao được. Mà thấy tội nó quá, sợ người ta bỏ bê không ai chăm sóc.”
Vì vậy bé Thịnh được ở nhà tôn vách lá hít khí trời với mẹ cha. Đôi khi mẹ bận cho gà ăn, hay giặt giũ sau nhà thế là bé lật úp té nhào từ võng xuống nền gạch khóc òa. Mỗi lần như vậy chị lại sức dầu, xin lỗi và nựng con. Trời nóng như thiêu đốt thế mà bé ngủ gần như phủ kín mền chỉ chừa cái đầu. Ở tuổi thứ sáu bé cũng có răng, nhưng răng mọc khác người, quặp hẳn vô trong, chân tay hoàn toàn không phát triển. Bé thường xuyên bị nóng sốt và tiêu chảy. Bác sĩ cho thuốc uống, bé lại không chịu và bỏ ăn. Bây giờ thì mẹ hốt thuốc Bắc cho con. Ông thầy thuốc chưa hề nhìn thấy mặt, chưa hề bắt mạch bệnh nhân, chỉ bốc thuốc theo lời kể của mẹ mà thuốc lại có vẻ hạp. Chị nói là ông thầy tốt bụng cũng thấy tội nghiệp nên lần nào cũng bớt tiền thuốc, tiền xe.

Tuần rồi chị được trên xã mời lên nhận quà. Chị cho biết rất ngại khi phải bồng con ra ngoài vì “ai cũng nhìn, ai cũng lắc đầu rồi chăm chú như thấy quái vật” điều làm chị hết sức tủi thân. Nhưng hôm đó chị được tặng một thùng bánh và phong bì hai triệu đồng (# US $100) đủ để mua tã lót và sữa cho con trong một tháng. Chị nói:
“Ban ngày cho nó nằm võng, có ỉa đái gì thì rớt xuống sàn nhà rồi lau, ban đêm mặc tã cho nó. Một đêm cũng phải thay hai miếng tã Pampers.”
Thật là oái ăm cho một kiếp người. Một em bé (có thể) bị nhiễm dioxin Made in USA bây giờ lại dùng tã của công ty Mỹ Procter & Gamble Co. đang đầu tư làm ăn ở Việt Nam.
Có lần chị đem con lên bệnh viện lớn để giải phẫu. Sau khi chụp hình làm xét nghiệm y khoa, chị được biết não chỉ có 20 – 30%, phần còn lại là nước, cho nên không thể mổ được.
“Số mạng nó như vậy, đành chịu thôi,” chị than trách. Tôi không rõ chị trách phận làm mẹ đẻ ra con bị dị tật phải sống với đầu to suốt đời hay tự trách mình không cho chồng được đứa con trai lành mạnh. Vì chỉ có đứa con gái chơi thơ thẩn một mình, nên cả hai vợ chồng đều muốn sanh thêm đứa nữa cho Diệu Thảo có bạn. Chị đang mang bầu năm tháng. Tôi ra về không dám chúc chị được nhiều may mắn hơn trong lần sinh nở tới.

Tuesday, August 10, 2010

Hồ Thị Út: Thân Phận hay Nghiệp Chướng


PHÚ MỸ HƯNG, Củ Chi – Hồ Thị Út sinh năm 1989, năm nay vừa tròn 21 tuổi. Với mái tóc đen nhánh, nước da trắng mịn hệt như của mẹ, Út có thể là một sinh viên đại học, một hoa khôi của huyện hay ít ra cũng là một cô gái duyên dáng với mối tình đầu lãng mạn và rất nhiều tương lai. Tên của cô cũng phản ánh thứ bậc của cô trong gia đình mười anh chị em. Là gái út nên được cha cưng mẹ chiều – chiều nhiều hơn tất cả các anh chị lớn. Mức chiều của người mẹ, bà Trần Thị Ba xem ra thì quá đáng đến độ không thể tưởng tượng nổi, nhưng khi nắm hết câu chuyện về cuộc đời của Út, thì chắc mọi người đều phải thông cảm nếu không thì cũng rưng nước mắt thương đau cho số phận của một cô gái tuổi thanh xuân. Và vào một buổi trưa nóng gay gắt như đổ lửa, tôi gặp Út trong vòng tay bồng bế của mẹ tại một xã của Huyện Củ Chi – sát cạnh với khu địa đạo nổi tiếng, trong chuyến đi chung với nhóm phụ nữ thiện nguyện và một hội đoàn của thành phố.
“Tui phải bồng nó suốt ngày, chẳng làm gì được. Ba nó lớn tuổi cũng giúp chút đỉnh, đa phần là tui lo,” chị Trần Thị Ba tâm sự, đôi mắt to đen lúc nào cũng chực khóc. Răng chị đen vì nhai trầu nhưng lại nổi bật trên làn da trắng – điều ít thấy ở một người dân quê lao động. Nếu kể thêm thành tích hoạt động của chị trước đây – khi chưa phải tay bồng tay bế, thì phải nói là rất đáng sợ, rõ ràng không phải là người để tôi gặp và trò chuyện thân mật như bây giờ: chị là một cán bộ giao liên nội thành thời chiến tranh “Chống Mỹ.”
Chị kể lại, nhẹ nhàng, y như kể chuyện cổ tích:
“Tui hoạt động cả chục năm trong vùng Ba Thu Kinh Tốc, sát biên giới với Kampuchia trong tỉnh Long An. Vì là y tá biết đôi chút về thuốc Tây nên tổ chức giao cho tôi nhiệm  vụ đi thu mua thuốc và chuyển vào vùng giải phóng cho du kích.”
Chị cho biết từng bó thuốc Tây suốt từ ống chân lên đến vùng bụng hay nhồi thuốc đầy vào bên trong gối khi chuyển hàng vào bưng trot lọt. Hai lần chị bị bắt tại trạm kiểm soát ở Trảng Bàng nhưng may mắn chị không bị đánh đập và nhờ chạy chọt cũng được trả tự do. Tuy nhiên chị không một chút lo sợ và tiếp tục công tác mà chị cho là phải đóng góp hết công sức.

Khi hỏi rằng bị bắt như vậy không sợ sao.
Cựu giao liên Trần Thị Ba nở nụ cười rạng rỡ: “Sợ chớ sao không sợ, nhưng xong rồi là lại muốn xung phong làm nữa.”
Chồng chị là cán bộ nằm vùng hoạt động trong vùng “tạm chiếm” thế nên khi bị lộ thì ông phải rút vào khu. Không biết có phải vì vậy mà người vợ ở thành cũng xả thân vào bưng để có cơ hội gặp chồng. Việc gặp nhau trong những giây phút ngắn ngủi của thời chiến tranh loạn ly với bom đạn hỏa châu nổ rền ngay trên đầu chắc hẳn cũng làm cho đôi trai gái thương nhớ mặn nồng nhau nhiều hơn. Kết quả là cứ hai năm một lần, Trần Thị Ba lại sanh một con. Từ đứa đầu đến đứa thứ chín, tất cả đều mạnh khỏe, mẹ tròn con vuông … cho đến khi chị sanh người con thứ mười thì tai họa mới giáng xuống hộ gia đình này.
“Tui nghĩ là nó phải lãnh hết tai nạn cho chín anh chị nó,” chị Ba sót sa, đôi mắt đỏ hoe.
Nó đây là Hồ Thị Út, người con chị phải bồng ẵm suốt ngày, tháng và năm.

Chân Dung Út

Út có khuôn mặt dài bất thường, miệng méo xệch sang một bên, răng lởm chởm, cái còn cái mất. Thân hình của Út vẹo sang bên trái, lồng ngực nhô ra trước, hai cánh tay không khép được trong khi hai bàn tay cong queo với muời ngón co cụm lại, cặp chân như hai ống tre vẹo hẳn sang bên phải, hai bàn chân co rút làm lồi lên những đốt xương. Lúc khóc, lúc cười, lúc vặn người, lúc co cụm, không ai biết Út muốn gì ngoài bà mẹ hiểu ý con.
“Khi nào mắc tiêu mắc tiểu thì nó nói ‘Ba, đái’ và chỉ nói có vậy. Má nó cũng không nói được. Tui nghĩ là nó biết hết nhưng chỉ không nói được mà thôi,” chị Ba thổ lộ từ chiếc ghế đá bên ngoài trụ sở xã, hai tay ôm chặt người con có số phận hẩm hiu. Từ nhà ra ủy ban khoảng hai cây số, và người anh kế có nhiệm vụ chở Honda mẹ và em gái đi nhận quà ủy lạo.
“Tui leo lên Honda ngồi trước rồi ba nó bồng nó đưa cho tui, thằng Bình chở tới đây,” chị cho biết như vậy. Bình 23 tuổi là anh kế của Út, đang sống trong nội thành.
Thật ra không phải chị muốn sanh nhiều như vậy. Khi hạ sanh người con thứ chín, chị được khuyến cáo đặt vòng tránh thai. Nhưng vì sanh nở nhiều lần nên phòng y tế địa phương không có loại vòng với kích thước lớn nên chị lại mang thai lần thứ mười. Và Út đành phải ra đời với một thân hình dị dạng đáng thương. Theo lời chị, chín người con sanh trước đều bình thường, đều có nghề nghiệp làm ăn tương đối đủ sống. Chín người này xúm nhau, nguời một chút phụ giúp mẹ chăm sóc em út. Có người đã lập gia đình có con lớn khôn - tức cháu nội ngoại chị Ba và may mắn cho gia đình họ Hồ, tất cả đều bình thường – cho đến ngày Út chào đời. Chị cho hay chị rất bất ngờ và chỉ “muốn chết cho rồi.”

Tôi hỏi một câu rất vớ vẩn đối với một người dân ở rất xa với các phương tiện y khoa hiện đại: “Sao chị không đi khám thai khi mang bầu?”
“Hồi đó chẳng mấy ai biết chuyện khám thai hay kế hoạch, nếu biết còn nói chi,” chị trả lời.
Chỉ mãi sau này chị mới có chút hiểu biết về tác hại của Chất Da Cam và theo chị có thể là chị bị nhiễm hóa chất đó khi hoạt động giao liên trong bưng biền. “Chắc tại tui uống nước hố bom,” chị nói và xác nhận đã nhiều lần uống nước rất trong lấy từ hố bom vì ở trong vùng tự do oanh ích đến cả chục năm hơn. Ấy vậy mà không một lần tôi nghe chị kể tội hay trách cứ người gây ra nguyên nhân để chị nhận lãnh hậu quả đau xót. Ngược lại chị có vẻ như than phiền về những người từng trong cùng tổ chức với chị.
“Họ kêu gọi tui kết nạp Đảng, tui nói thôi; họ nói tui làm giấy có công với cách mạng để được hưởng chế độ, tui cũng cám ơn không làm.”
Chị không giải thích tại sao, nhưng trong lúc trò chuyện chị cho biết có một lần cháu Út đau nặng, chị bồng cháu đến nhà thương và ngồi chờ hoài, chờ miết cũng chẳng ai thèm quan tâm đến chị. Chị bèn bồng con về và từ đó tự chăm sóc và bỏ tiền đi bác sĩ tư mỗi khi Út bệnh và bệnh rất thường xuyên.

“Nó không bao giờ đái dầm, chẳng bao giờ ỉa bậy. Khi nào mót là nó kêu. Khi nào đói thì nó hả miệng. Còn hiện nay đến tuổi kinh nguyệt, nên hàng tháng cứ đều đặn đúng 30 ngày Út lại có kinh,” chị Ba mô tả cuộc sống hàng ngày của Út từ 21 năm nay.
Một con người không ra người, một cơ thể không ra cơ thể mà vẫn ăn, uống, thở, tiêu hóa, bài tiết, khóc, cười ... nhưng lại không nói, có thể biết nghe, thì liệu có thể gọi đó là một con người?
Nhưng có điều chắc chị Ba không thể hiểu nổi là mới ngày nào chị phải chống người Mỹ đã rải hóa chất Da Cam độc hại xuống quê hương “Đất Thép Thành Đồng” thì ngày hôm nay - lúc cả nước đánh dấu Ngày Da Cam Việt Nam, thì cũng người Mỹ lại đưa một hàng không mẫu hạm nguyên tử đến thăm Đà Nẵng để đánh dấu 15 năm quan hệ bình thường giữa hai nước.

Sunday, August 8, 2010

“Da Cam – Thông Điệp Trái Tim”

SÀI GÒN, Vietnam – Thiên đường có khi nào phải đối diện với địa ngục?
Câu trả lời là có ít ra ngay tại ngay downton Sài Gòn. Thật vậy nếu bên này đường Đồng Khởi, khối bê tông khổng lồ bọc kiếng xanh biếc chiếm gần hết công viên Chi Lăng của tòa nhà Vincom Center lừng lững như thách thức không gian và thời gian – được giới thiệu như “Thiên Đàng Của Mua Sắm” thì bên đối diện một loạt 30 ảnh khổ lớn lại mô tả một sự kiện có tầm mức quy mô và dữ dội về bóng ma kinh hoàng còn sót lại của chiến tranh. Trong năm ngày tới kể từ nay đến hết ngày 10 tháng Tám, tương lai và quá khứ, thiên đàng và địa ngục sẽ cùng hiện diện khi Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam tổ chức chuỗi hoạt động nhân Ngày Da Cam Việt Nam bao gồm triển lãm ảnh, tạo đàm, văn nghệ cùng lễ ra mắt Qũy Chất Độc Da Cam/dioxin tại TP/HCM.

Phát biểu tại buổi khai mạc Chủ Tịch Hội, Thiếu Tướng Trần Ngọc Thổ lên án gay gắt các nhà chiến lược quân sự Mỹ. Ông nói:
“Cuộc triển lãm hôm nay mục đích nêu lên một thảm kịch mà tội ác không thể tha thứ được. Tội ác này thuộc về các nhà chiến lược quân sự Mỹ phạm phải. Hôm nay không phải dựng lên một bản án để kết tội một quốc gia (cụ thể là Mỹ) mà để nhắc đến các nạn nhân, những người đang cần sự trợ giúp và đến bù.”
Quân đội Mỹ rải chất Da Cam lần đầu tiên ngày 10 tháng Tám, 1961 tại Ngọc Hồi, Kontum, thuộc Ngã Ba Biên Giới. Và suốt từ 1961 đến 1971, có khoảng 20 triệu gallons chất khai quang này được sử dụng và ước lượng có đến 4.8 triệu người bị ảnh hưởng kéo dài đến ngày hôm nay.

Triễn lãm ảnh “Da Cam – Thông Điệp Của Trái Tim” được giới thiệu như sau “30 tác phẩm nói về cuộc đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân da cam/dioxin và những nỗ lực xã hội nhằm chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân da cam vượt lên nỗi đau, hòa nhập với cộng đồng.
Ba mươi tác phẩm trưng bày tại triển lãm ảnh là những ảnh thời sự nghệ thuật và phóng sự báo chí ý nghĩa được chụp trong tháng Tư và Năm 2010 tại TP/HCM và tỉnh Tiền Giang.
Các tác phẩm ảnh được chia làm hai khu vực: Khu vực A (đối diện công viên Chi Lăng) là ý chí vượt lên số phận hòa nhập cuộc sống cộng đồng và sự chung tay chăm sóc, giúp đỡ của gia đình, người thân và cả cộng đồng (trong và ngoài nước) đối với các nạn nhân chất dđộc Da Cam/dioxin. Khu vực B (Sở Văn Hóa, Thể Thao & Du Lịch TP/HCM) những hình ảnh ghi lại nỗi đau của các nạn nhân. Mươi bốn tác giả đã quyết định tặng các tác phẩm ảnh trong triển lãm này cho Bảo Tàng Chứng Tích Chiến Tranh TP/HCM.”

Xem triển lãm tại DAY