Monday, August 25, 2014

Đại dịch PGS-TS-BS

Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.
Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Nhưng họ có giá trị hơn nhà khoa học. Bài giảng của người cách mạng có giá hơn bài giảng của giáo sư tiến sĩ. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.

Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.

Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc. Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.
Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.

Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu. Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vịt mà thôi, chẳng ai nghe đâu.

Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được. Bản thân thầy hướng dẫn chẳng hiểu tường tận vấn đề thì làm sao có được đề tài mới. Họ để cho trò tự “bơi”. Bơi bằng cách lên mạng, xem người ta ở ngoài làm gì rồi cố gắng làm giống như thế ở Việt Nam. Đại đa số bắt chước mà vẫn còn sai. Sai vì không hiểu vấn đề đến nơi đến chốn. Không có sáng tạo thì làm sao gọi là tiến sĩ được. Cả một nền học thuật chỉ bắt chước mà cho ra lò cả ngàn tiến sĩ mỗi năm. Đó là một nền học thuật ăn theo, dỏm.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gian có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.

Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằng tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Không dỏm thì cái bằng đó cũng chỉ là thứ được cấu thành từ những giả tạo, những “nghiên cứu” loại rác rưởi khoa học, những dữ liệu có được từ vi phạm y đức. Bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là thứ rác rưởi trong thế giới học thuật ngay chính trên đất nước Việt Nam. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhân đang trả giá cho cái dỏm.
Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.

Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch. Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Nghiên cứu là con số 0. Lâm sàng? Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.

Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.

Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.

Trích Nhật Ký Của Ngọc
 http://bsngoc.wordpress.com/2011/05/22/d%E1%BA%A1i-d%E1%BB%8Bch-pgs-ts-bs/

Friday, August 8, 2014

Bênh Lầm



Đức Hà

Jane Fonda tại Hanoi - 1972
Vào tháng Bảy 1972 khi quân đội Mỹ đang từ từ giảm bớt sự tham chiến vào Việt Nam, diễn viên Jane Fonda đã liều lĩnh gây nên sự thù nghịch của không biết bao nhiêu cựu chiến binh Mỹ và gia đình kể cả binh sĩ của các thế hệ kế tiếp khi cô đặt chân xuống Hà Nội và khởi đầu chuyến viếng thăm hai tuần lễ. Jane Fonda, lúc đó 35 tuổi - theo bố trí của chính quyền Hà Nội, đã đến thăm ủy lạo tại nhiều làng mạc, bệnh viện, trường học và cơ sở nhà máy bị bom đạn Mỹ tàn phá. Tệ hại hơn cả, tài tử Fonda - hỗn danh "Jane Hanoi" đã đứng về phe Cộng Sản Bắc Việt để lên án và tố giác chính sách ngoại giao của Washington. Cuốn băng ghi giọng nói của cô được đài Hà Nội phát đi rộng rãi nhằm truyên truyền cho điều được gọi là chính nghĩa phải thuộc về chế độ Bắc Việt Nam. Như thế vẫn chưa đủ cô còn chụp cả bức hình ngồi lên khẩu đại bác phòng không cùng với các xạ thủ đội nón cối; cô cũng vỗ tay bắt nhịp đồng ca bản Dạy Mà Đi (các tù cải tạo chắc vẫn chưa quên bài này) Tất cả những việc làm thiếu cân nhắc, điên rồ hay bốc đồng này đã khiến sau này Jane Fonda phải vô cùng hối tiếc và nhiều lần công khai bày tỏ xin được tha thứ. Cho dù biện minh là bị gài vào kịch bản dọn sẵn của Hà Nội, vết nhơ năm 1972 mãi mãi không cách chi gột rửa. Cứ mỗi lần Jane Fonda xuất hiện trên TV hay phát biểu điều gì đó thì chuyện cũ lại được nhắc lại - kể cả chuyện nhổ nước miếng vào mặt.
Và đó là chuyện thời chiến tranh Việt Nam. Đến nay 2014 khi cuộc xung đột Israel - Palestine đang gây ra bao tang thương cho cả đôi bên, cũng lại xảy ra một vụ bênh lầm, cũng trong giới nghệ sĩ, và cũng đưa đến những chỉ trích nặng nề.

Israel - Gaza

Theo dõi tin tức chiến sự hàng ngày về hiện tình giữa Israel và Palestine thì người Việt không thể không liên tưởng đến những trận pháo kích, đặt bom, bắn rốc-kết, ném lựu đạn vào khu dân cư trong thành phố, kể cả đồn bót, cơ sở người Mỹ ... thời chiến tranh Việt Nam. Thương vong nhiều nhất vẫn là dân lành vô tội. Hiện nay cũng vậy, dân Palestine sống bên phía Dải Gaza hay bên Do Thái đều là nạn nhân, tuy phần nặng nghiêng về phía Palestine. Tính đến thời điểm này con số tử vong phía Palestine lên gần hai ngàn người, Israel thiệt hại 64 binh sĩ cùng ba thường dân (con số này tăng hàng ngày) và hàng chục ngàn người bị thương; nhưng nếu tính theo tỉ lệ thì cứ tám trên mười người chết là người dân thường Palestine chứ không phải du kích quân Hamas. Phóng viên mặt trận cho hay quân Hamas hay lợi dụng khu đông dân cư làm căn cứ tồn trữ bom đạn hay dùng nơi đó để đặt pháo hay hỏa tiễn bắn về phía Israel. Israel trả đũa và oanh kích ngay vào các tọa độ này nên nhà cửa dân lành bên Gaza bị tàn phá là vậy. Israel có hệ thống phòng chống pháo kích cực kỳ hiện đại nên hóa giải được hầu hết đạn từ Hamas dội sang. Nếu đứng về phía Palestine, người ta sẽ hết lòng bênh vực cho người dân xứ này, ngược lại cũng thế nếu hậu thuẫn Israel thì lời ủng hộ sẽ dành cho người Do Thái. Tuy nhiên nếu tổ chức Hamas được nhiều nước - trong đó có Mỹ, Anh, Canada, Nhật ... gọi là quân khủng bố thì Nga, Trung Quốc và vài nước Ả Rập không xem Hamas là khủng bố. Báo chí Việt Nam chỉ dùng cụm từ "nhóm vũ trang Hamas" hay "phong trào Hamas" để gọi tổ chức đấu tranh vũ trang đang cầm quyền tại Quốc Hội Palestine.

Penelope Cruz

Penelope Cruz, năm nay 40 tuổi, có thời gian dài cặp bồ với Tom Cruise nhưng hôn nhân không thành; năm 2010 Cruz lấy diễn viên Javier Bardem cũng người Tây Ban Nha. Theo bản tiểu sử, Penelope Cruz ngoài bận rộn tại phim trường và chăm nuôi hai con, Cruz dành thời gian còn lại cho công tác thiện nguyện. Cho đến ngày 29 tháng Bảy vừa qua, Penelope Cruz cùng chồng Bardem và nhiều nghệ sĩ khác đồng ký tên vào thư ngỏ viết bằng tiếng Tây Ban Nha, lên án Israel đang thực thi chiến dịch được thư mô tả là "diệt chủng" khi đánh bom liên tục vào Dải Gaza.
Những người ký tên vào thư ngỏ đòi hỏi Liên Hiệp Châu Âu có biện pháp tích cực nhằm ngăn chận chiến dịch quân sự leo thang từng ngày theo đó đa số người chết là thường dân và trẻ em. Thư nêu rõ: "Trong những ngày này Dải Gaza đang sống trong hãi sợ, bị phong tỏa và tấn công từ mặt đất, trên không và trên biển. Nhà cửa của người Palestine bị tàn phá, họ không có nước dùng, không điện và hoàn toàn không thể di chuyển tự do đến bệnh viện, trường học hay đồng ruộng trong khi cộng đồng quốc tế bất động."
Thư nêu rõ quân Israel là "Lực Lượng Chiếm Đóng" và yêu cầu ngưng bắn ngay tức thì và hối thúc phía Israel phải bãi bỏ lệnh phong tỏa Dải Gaza mà người Palestine đã phải chịu đựng cả hơn một thập niên nay.
Diễn viên Javier Bardem viết: "Với những cảnh tượng hãi hùng đang diễn ra ở Gaza, người ta không còn chỗ cho sự vô cảm hay đứng trung lập. Điều này không thể hiểu được và cũng không thể biện minh. Và thật là nhẫn tâm khi các nước phương Tây cho phép hành vi diệt chủng cứ tiếp diễn."

Phản Ứng

Thư ngỏ của các nghệ sĩ Tây Ban Nha và phát biểu của Javier Bardem đã gây ra hàng loạt phản ứng dữ dội.
Trung Tâm Simon Wiesenthal ở New York cho phổ biến thông báo nói rằng Israel không hề khai mào cuộc chiến này:
"Israel chỉ hành động đúng đắn như mọi nước trên hành tinh này - kể cả Tây Ban Nha, khi hàng trăm rốc-kết được bắn vào các trung tâm dân cư do một tổ chức khủng bố chủ trương mà cả thế giới đều biết."
Tài tử Jon Voight - cha ruột của Angelina Jolie, có lời chỉ trích gay gắt khi nói rằng họ đã xúc phạm danh dự của quốc gia dân chủ duy nhất và đầy thiện chí ở Trung Đông. Ông viết: "Họ phải tự thấy xấu hổ khi có cái nhìn thiển cận về tình hình ở Dải Gaza và đã khơi bày chủ nghĩa bài Do Thái trên toàn thế giới và rõ ràng họ đã không quan tâm đến những hệ lụy gây ra."
Khi được yêu cầu giải thích thêm, ông Voight cho biết người Do Thái vẫn luôn luôn mưu tìm mối giao hảo với láng giềng Ả Rập; họ trao trả bán đảo Sinai cho Ai Cập, Dải Gaza cho người Palestine. Ngược lại người Palestine đã bầu chọn nhóm Hamas, một tổ chức khủng bố, lên lãnh đạo và ngay sau đó mở cuộc bắn phá vào đất Israel. Và ông cũng không quên nhấn mạnh:
"Tôi muốn hỏi những vị đã ký tên vào thư ngỏ độc ác với nội dung lên án Israel là hãy xét lại chính mình: động cơ nào đã thúc đẩy quý vị. Quý vị có thể nào rút lại thái độ bài Do Thái đang diễn ra? Quý vị trở nên nổi tiếng và giàu sang vì sống trong một đất nước dân chủ là Hoa Kỳ. Hãy tự hỏi xem liệu quý vị có thể làm điều đó không nếu ở Iran, Syria, Lebanon ... Quý vị phải có trách nhiệm cao khi sử dụng sự tiếng tăm của mình vào việc làm hữu ích."

Ngay tức thì diễn viên Penelope Cruz đã phải đưa ra lời biện minh:
"Tôi không muốn bị hiểu lầm trong vấn đề quan trọng này. Tôi không phải là chuyên viên về tình hình hiện nay, và tôi biết rõ về tính phức tạp của sự việc. Ước muốn duy nhất của tôi khi ký tên vào thư ngỏ là hy vọng hòa bình sẽ đến với Israel và Gaza. Tôi mong mỏi rằng mọi bên có thể thỏa thuận được một cuộc ngưng bắn và rồi ra sẽ không còn những nạn nhân vô tội ở hai bên biên giới."
Chồng của Cruz cũng tìm cách giải thích quan điểm của mình. Ông viết:
"Khi ký tên cùng với nhiều nghệ sĩ Tây Ban Nha vào thư ngỏ, tôi chỉ muốn kêu gọi mọi quốc gia hãy can thiệp vào cuộc khủng hoảng ngày một gia tăng ở Israel- Gaza. Chữ ký của tôi chỉ nhằm mục đích mưu cầu hòa bình bởi vì sự tàn phá và hận thù chỉ tạo thêm thù hận và đổ nát."

Hãy thử tượng nếu những người ký tên vào thư ngỏ lại - theo gót Jane Hanoi, chụp hình ngồi lên một dàn phóng rốc-kết của Palestine để kêu gọi hòa bình thì không biết hệ quả sẽ như thế nào?

Wednesday, July 30, 2014

Từ Hỏa Lò Đến Arlington



Đức Hà

Người tù của xà lim số 10 nhà tù Hỏa Lò Hà Nội cuối cùng đã được an táng trong buổi lễ trang nghiêm tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Virginia tuần vừa qua.
Đúng ra ông mất ngày 28 tháng Ba tại Virginia Beach, thọ 89 tuổi nhưng mãi đến nay - vì nhiều lí do khách quan, quan tài mới được chuyển vào nơi an nghỉ của những người có nhiều công lao với đất nước. Ông được biết khi giữ các chức vụ cao cấp trong quân đội và chính quyền liên bang sau khi rời quân đội, nhưng nổi tiếng nhứt là lúc còn là tù binh thời chiến tranh Việt Nam. Trung Tá Hải Quân Jeremiah Andrew Denton, Jr. là người đã dùng mắt đánh tín hiệu Morse để loan báo cho toàn thế giới được rõ rằng "Tù binh Mỹ tại Hà Nội đều bị tra tấn," trái ngược với những lời tuyên truyền tốt đẹp đầy tính nhân đạo của Nhà Nước Hà Nội. Lẽ dĩ nhiên câu chuyện "siêu lừa" của tù binh Trung Tá Denton vào ngày 17 tháng Năm, 1966 không hề được các quản giáo trại giam nhắc lại hay báo Đảng đưa tin.


Tháng Bảy, 1965
 
Theo báo chí Hà Nội, ông là một giặc lái đế quốc Mỹ bị lực lượng phòng không Quân Đội Nhân Dân anh hùng bắn hạ và bắt sống khi tham gia phi vụ hành quân thứ 12 tại miền Bắc Việt Nam. Ngày 18 tháng Bảy, 1965 phi tuần trưởng Trung Tá Hải Quân Denton dẫn đầu với 28 phản lực cơ A-6 Intruder cất cánh từ hàng không mẫu hạm Independance - từ ngoài khơi biển Nam Hải, nhắm hướng Thanh Hóa. Mục tiêu ngày hôm đó: đánh bom và phá hủy một số nhà kho quân sự phía nam Hà Nội. Không may cho ông và bạn đồng hành Trung Úy Bill Tschudy, phi cơ trúng đạn phòng không và tê liệt. Cả hai thoát hiểm nhưng sau đó phải trải qua gần tám năm trong nhà giam Cộng Sản - với bốn năm cách ly ngục tối. Một năm sau, vì là tù nhân gương mẫu ông được chọn để nhóm phóng viên truyền hình Nhật phỏng vấn nhằm mục đích tuyên truyền cho chế độ khoan dung cho dù đối với người gây tội ác cho nhân dân Việt Nam - nghĩa là cho dù là kẻ thù, Hà Nội vẫn tuân thủ nghiêm chỉnh quy ước Genève về tù binh. Trong cuộc phỏng vấn có thu hình, ông Denton đã nói cực tốt về đời sống của tù binh Mỹ trong trại giam để lừa cai tù nhưng đồng thời chớp mắt bảy chữ "T-O-R-T-U-R-E" duới dạng Morse. Từ đó người ta mới biết sự thật là tù binh Mỹ không hề được đối xử một chút nào gọi là tử tế.

Sau đòn tâm lý chiến ngoạn mục đó, tù binh Denton được bị đánh đòn không biết bao nhiêu trận và tống vào khu biệt lập "Alcatraz" - được tù binh Mỹ đặt tên dựa theo danh xưng của nhà tù nổi tiếng trong Vịnh San Francisco. Trong khu Alacatraz - tách biệt khỏi nhà tù Hỏa Lò tức Hanoi Hilton, có tất cả 11 xà lim, và ông Denton được tạm trú trong xà lim số 10. Tất cả đều là phi công Hoa Kỳ, bị bắt khi bay tác chiến ở Bắc Việt Nam và đều được xếp vào dạng ương ngạnh, cứng đầu, khó cải tạo. Ông bị giam trong ngục thất Alcatraz hai năm liền và chứng kiến cái chết của một tù binh phi công Không Quân năm 1970. Tất cả được trao trả về phía Mỹ năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết.
Ông Robert Shumaker, phi công thứ hai của Mỹ bị bắt làm tù binh nói với phóng viên trong lễ đưa hài cốt của ông Denton vào Arlington rằng tuy bị cách ly nhưng rất gần nhau. Ông nói:
"Ông ta (Denton) luôn luôn giữ vai trò lãnh đạo dù đang trong cảnh tù tội. Ông bày ra cách gõ vào vách đá xà lim để liên lạc thông tin với bạn tù."
Ông Shumaker cho biết mỗi xà lim trong khu Alacatraz rộng khoảng 0.9 mét, dài 2,7 và cao 3,6 mét, không cửa sổ và đèn thắp sáng 24 trên 24 trong khi chân đeo cùm mười sáu tiếng một ngày.

Là người đầu tiên bước ra khỏi máy bay khi trở về từ ngục tù tháng Hai 1973, miệng cười tươi, ông không một lời oán trách chính sách đã đưa bao nhiêu thanh niên Mỹ đến chỗ thương vong tù đầy. Ông phát biểu ngắn gọn:
"Chúng tôi rất vinh dự có cơ hội phục vụ đất nước trong những hoàn cảnh khó khăn. Chúng tôi hết lòng biết ơn vị tổng tư lệnh quân lực và đất nước Hoa kỳ cho ngày hôm nay. Xin Ơn Trên phù hộ Hoa Kỳ."

Tháng Bảy, 2014

Mười một người trong trại Alcatraz với một chết trong tù và bốn qua đời khi chiến tranh chấm dứt, nhóm "Alcatraz 11" nay chỉ còn sáu. Vào ngày đưa ông Denton vô nghĩa trang quốc gia, bốn bạn tù của ông cũng đã có mặt và cùng tháp tùng theo cỗ xe tang chở quan tài người mà nhân dân Mỹ gọi là anh hùng.
Tiễn đưa cựu Thiếu Tướng Hải Quân, Cựu Thượng Nghị Sĩ Alabama Jeremiah A. Denton, Jr. ngoài đội binh chào kính Hải Quân còn có hai phản lực cơ từ căn cứ Hải Quân ở Virginia Beach bay vụt qua, cùng 21 phát súng. Virginia Beach là nơi ông cư ngụ những ngày tháng cuối đời.

Sau khi đọc cuốn tự truyện "When Hell Was In Session" của tác giả Jeremiah Denton,
một độc giả đã bày tỏ cảm tưởng như sau:
"Trong bảy năm rưỡi bị cầm tù, với một khoản thời gian không ít trong ngục tối, ông đã trải qua những cuộc tra tấn kinh hoàng và cách đối xử tàn tệ mà một người bình thường chỉ có thấy trong những cơn ác mộng hãi hùng nhất. Không thể chối cãi được rằng tác giả Denton là một người dũng cảm và đáng kính trọng với một í chí sắt thép khi ông kháng cự lại với bọn cai tù từng bước một. Thêm nữa đây cũng là bằng chứng về con người cùng lòng quả cảm của chính ông khi ông chọn sống lại quá khứ với những năm tháng ác liệt đó để có thể hoàn tất tập sách phong phú này. Cho dù sách chỉ có 182 trang, nhưng nội dung có thể là một trong những chuyện mắt thấy tai nghe đầy đủ và hay nhất từ một người Mỹ bị giam tại nhà lao nổi tiếng Hanoi Hilton. Bản thân tôi đã đọc vài cuốn tự truyện của tù binh Mỹ trở về từ ngục tù Hanoi, nhưng cuốn này xứng đáng được xếp hàng đầu. Tôi hân hạnh gợi ý với quý vị nào thích các loại đề tài này thì rất nên đọc cuốn When Hell Was In Session ..."

Khi còn sống Tổng Thống Ronald Reagon gọi ông là "Kho báu quốc gia."

Xem lễ an táng cố Thiếu Tướng Hải Quân Jeremiah A. Denton tại đây

Friday, April 4, 2014

T-R-A T-Ấ-N



Đức Hà
My OneViet

Người lính Mỹ trong bộ áo tù tươm tất từ bên trong nhè nhẹ bước ra. Tóc tai gọn ghẽ, trông không có vẻ đói ăn hốc hác như tù cải tạo trong Nam sau 1975. Ông nghiêng mình chào và khoan thai ngồi xuống ghế. Rất trầm tĩnh. Trên ngực áo thấy có bảng tên, trên ống quần ngang đùi là số quân. Ông ngồi nghiêm túc thẳng thắn, hai tay nắm chặt để trên đùi sẵn sàng trả lời câu hỏi như từng sẵn sàng trong các cuộc hỏi cung trước đó. Thế rồi bỗng dưng mắt ông cảm thấy bị chói lòa dưới ánh sáng của những ngọn đèn video. Mắt ông nhức nhối và ông chớp liên tục hy vọng nước mắt sẽ làm dịu êm. Ai xem đoạn video này cũng nghĩ thế, kể cả các quản giáo nhà lao. Ông là người duy nhất được trại giam chọn để trả lời phỏng vấn của nhóm phóng viên truyền hình Nhật Bản trong kịch bản được Hà Nội dàn dựng.
Tù Binh Jeremiah Denton - 1966


Đó là một phần của đoạn video trình chiếu trên tivi Mỹ ngày 17 tháng Năm 1966 - cách nay hơn 48 năm. Phi công đó tên Jeremiah A. Denton của Hải Quân Mỹ, năm đó ông 41 tuổi mang cấp bậc Commander - tương đương Trung Tá. Theo báo chí Hà Nội, ông là một giặc lái đế quốc Mỹ bị lực lượng phòng không Quân Đội Nhân Dân anh hùng bắn hạ và bắt sống khi tham gia phi vụ hành quân thứ 12 tại miền Bắc Việt Nam.
Việc ông trả lời với lời lẽ cương quyết và gan lì không làm cho những người giam giữ ông căm giận - bởi vì chính họ nếu có bị bắt cầm tù ở trong Nam thì cũng phải phát biểu như vậy thôi nhưng việc chớp mắt liên tục khi trả lời phỏng vấn đã khiến ông bị cai tù đánh đập tra tấn tơi tả suốt.

Sự Thực

Phóng viên Nhật hỏi: "Ông được đối xử ra sao?"
Ông trả lời: "Tôi được nuôi ăn đầy đủ kể cả cung cấp quần áo và luôn cả chăm sóc y tế khi tôi cần."
Lúc này camera lấy cận ảnh sát mặt phi công Denton, và người ta nhìn thấy rất rõ ông vừa nói vừa chớp mắt. Ông không bị lóa cũng như không bị chói, thực ra ông đã dùng mắt để đánh tín hiệu Morse cho toàn thế giới biết. Cơ quan tình báo Mỹ đã phát hiện ra điều đó. Dịch tín hiệu Morse ra sẽ đọc được bảy chữ "T-O-R-T-U-R-E tức T-R-A  T-Ấ-N."

Đây là lần đầu tiên thế giới được biết tình trạng khốn khổ của tù binh Mỹ qua một chứng nhân đang bị Hà Nội cầm giữ. Họ bị đánh đập và tra tấn. Phi công tù binh John McCain cũng xác nhận điều đó trong tự truyện "How The POW's Fought Back." Hiện ông McCain là Thượng Nghị Sĩ đại diện cho Arizona.
Phóng viên hỏi tiếp: "Ông nghĩ thế nào về điều được gọi là chiến tranh Việt Nam?"
Ông trả lời: "Tôi không biết về điều gì đang xảy ra nhưng cho dù quan điểm của chính phủ tôi như thế nào đi nữa thì tôi cũng ủng hộ - ủng hộ hoàn toàn."
Ông nói tiếp: "Thưa đúng vậy cho dù quan điểm của chính phủ tôi như thế nào đi chăng nữa tôi cũng tin tưởng vào đó. Tôi là một thành phần của chính quyền đó và trách nhiệm của tôi là phải hậu thuẫn cho chính sách đó và tôi sẽ làm điều đó ngày nào tôi vẫn còn sống."
Kế hoạch dùng truyền hình Nhật phỏng vấn tù binh Mỹ nhằm tố cáo chính sách gây hấn của sen đầm Mỹ và tuyên truyền cho một chế độ có chính sách nuôi giữ tù binh nhân đạo và tử tế bỗng chốc biến thành phản tuyên truyền, hiệu ứng ngược. Mãi cho đến khi Trung Tá Jeremiah A. Denton được trả tự do năm 1973 trong đợt phóng thích đầu tiên sau khi ký kết Hiệp Định Paris và viết tập hồi ký "When Hell Was in Session," người ta mới biết thêm nhiều chi tiết kinh hoàng về nhà tù Cộng Sản.

Phi Vụ Nghiệt Ngã

Ngày 18 tháng Bảy, 1965 phi tuần trưởng Trung Tá Hải Quân Denton dắt 28 chiếc phản lực cơ A-6 cất cánh từ hàng không mẫu hạm Independance - từ ngoài khơi biển Nam Hải, trực chỉ Thanh Hóa. Mục tiêu ngày hôm đó: đánh bom và phá hủy một số nhà kho quân sự phía nam Hà Nội.
Đó là phi vụ thứ 12 của ông trên vùng trời Bắc Việt kể từ khi ông tham chiến năm 1964 và không may cho ông cùng bạn đồng hành trên chiếc A-6 Intruder hôm đó là khi đến tọa độ đánh bom đã bị hỏa lực phòng không bảo vệ cầu Thanh Hóa trên sông Mã bắn lên như mưa bão. Phi cơ bị trúng đạn, hệ thống điều khiển tê liệt. Máy bay xoáy như chôn ốc, lao xuống mặt đất. Hai phi công bung dù thoát hiểm và bị bắt ngay sau đó.
"Choáng váng và đau buốt do viên đạn bắn xuyên bắp vế trái, cảm giác đầu tiên của tôi là giận dữ. Giận dữ như điên khùng vì bị bắn rơi, và lại càng giận hơn nữa khi bị bắt giữ," ông kể lại với báo The New York Times năm 1973 - ngay sau khi từ Hà Nội về đến Hoa Kỳ.

Kể từ ngày nghiệt ngã đó và kéo dài trong bảy năm, bảy tháng ông bị chuyển trại nhiều lần kể cả nhà tù Hỏa Lò - được tù binh Mỹ đặt tên Hanoi Hilton và trải qua đủ món ăn chơi từ đánh đòn, bỏ đói, tra khảo trong đó có hơn bốn năm nhốt xà-lim kín và nhiều thời gian giam trong thùng như quan tài. Ông cho biết họ đấm đá, dùng dây curoa quạt điện quất tù binh, hăm dọa tử hình, dùng dây cột bắp thịt để máu không lưu thông khiến toàn thân tê buốt. Tuy nhiên ông, các bạn tù cũng như ông McCain, tất cả đều duy trì hệ thống chỉ huy cùng quân phong quân kỷ nghiêm ngặt. Nhóm tù binh bị cấm liên hệ, trò chuyện thì họ tìm cách liên lạc với nhau bằng cách gõ vào tường đá bằng tín hiệu Morse hay ho hắng; họ quyết tâm không chùn bước trước mọi đe dọa, dụ dỗ, cảm hóa.
"Cách cư xử của chúng tôi, rõ ràng đã làm bọn cai tù nổi điên và buộc họ phải trở nên hung dữ tàn bạo," ông nói.
Khoảng muời tháng sau khi bị bắt, Trung Tá Denton được chọn để làm công cụ tuyên truyền cho chế độ Hà Nội qua trung gian nhóm phóng viên Nhật. Và họ đã thất bại hoàn toàn khi ông Denton bình tĩnh dùng mắt để thông tin cho mọi người biết rằng ông cùng các phi công tù bình đang bị tra tấn.
Từ đó trở đi không phi công tù binh nào được báo nước ngoài phỏng vấn cho đến khi diễn viên Jane Fonda vào thăm Hà Nội năm 1972 và phát biểu một loạt những bừa bãi rác rưởi chống chiến tranh gây tức giận trong cả nước.

Một bài viết có tựa đề "Lại kể chuyện giặc lái B-52" chạy trên trang web báo điện tử Quân Đội Nhân Dân có đoạn như sau:
"... Ri-sớt Giôn-xơn (Richard Johnson) là một viên sĩ quan Mỹ cao gần 2m, mặt to, tai dài, mắt sắc, tóc thưa màu nâu đen điểm những sợi bạc, khoảng chừng 40 tuổi là thiếu tá thuộc Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, số lính 561-54-4696. Hắn giữ chức vụ hoa tiêu ra-đa trên chiếc máy bay ném bom B-52 thuộc đơn vị ném bom số 72, liên đội máy bay ném bom chiến lược số 6 đóng tại căn cứ không quân chiến lược Andersen trên đảo Gu-am. Sau cái đêm 18-12-1972 bị bắt ở Vĩnh Phú cho đến ngày gặp nhà báo Lê Kim, Ri-sớt đã ngồi gần 1 tháng trong trại giam Hỏa Lò. Thời gian không dài nhưng đủ để Ri-sớt thấy được thái độ đối xử độ lượng của các đồng chí trong trại và từ đó bước đầu hiểu chính sách khoan hồng nhân đạo của Chính phủ ta. Có lẽ cũng vì vậy, sau vài phút đầu còn thiếu tự nhiên, dần dà hắn đã cởi mở, không e dè mà kể về những bước thăng trầm trong chuyến bay định mệnh đêm 17-12-1972 của hắn..."

Vậy chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà Nước rộng lượng đến mức nào thì theo lời kể của người từng đứng đầu nhà tù Hỏa Lò phải nói là vô biên. Trích bài viết trên NgườiĐưaTin.vn
" ... Cựu  trại  trưởng  tù binh Hỏa Lò Trần Trọng Duyệt đã khẳng định: Có lẽ trên thế giới này không có nước nào đối xử với tù binh Mỹ tốt như ở Việt Nam. Đó là nhờ truyền thống khoan hồng và nhân đạo đã có hàng nghìn năm của dân tộc ta. Các tù binh chẳng những được ăn tốt, mà còn được chăm sóc sức khỏe (cả vật chất và tinh thần) rất chu đáo trong điều kiện thời chiến cho phép. Ngoài việc được tận tình cứu chữa vết thương do nhảy dù sau khi máy bay bốc cháy, các tù binh đã được những bác sĩ giỏi nhất ở các bệnh viện 108, 103, 354 của quân đội đến khám và chữa bệnh theo định kỳ. Cho nên, sau cú sốc thần kinh ban đầu lúc họ bị bắt, khi đã vào trại Hỏa Lò hầu hết các tù binh Mỹ đều ổn định tinh thần và sức khỏe rất nhanh. Nhiều người đã có ý thức tập luyện để thích nghi với điều kiện sinh hoạt mới, giữ gìn sức khỏe để đợi ngày được trao trả về nước. Ông Duyệt cho biết: Ở Hỏa Lò hồi đó các tù binh Mỹ thường xuyên được tổ chức vui chơi giải trí. Hằng ngày, họ được ra sân phơi nắng, chơi bóng chuyền, bóng rổ, chọc bi-a, đọc  sách báo, nghe tin tức kể cả tin tức của Mỹ và phương Tây qua đài phát thanh mà trại tiếp âm, hoặc chọn những tù binh có giọng đọc tốt để đọc cho tất cả cùng nghe.

Để các tù binh có phương tiện chơi thể thao thường xuyên, trại phải nhờ đến sự giúp đỡ  của ông Tạ Đình Đề, người phụ trách xưởng sản xuất dụng cụ của Tổng cục Thể dục thể thao. Thậm chí để giúp một số tù binh có bệnh về mắt có thể đọc được sách báo, Ban chỉ huy trại đã phải thửa khá nhiều cặp kính thuốc của bà Thúy Hà ở cửa hàng số 48 Hàng  Bài. Đặc biệt, trong các ngày lễ, ngày Tết của Mỹ như ngày Độc Lập, ngày Lễ Tạ Ơn, Noel, Tết Dương lịch ... tôn trọng tín ngưỡng của tù binh, trại còn cho mời cả mục sư Bùi Hoàng Thử đến làm lễ theo nghi thức tôn giáo cho số người theo đạo. Thỉnh thoảng, trại cho mời các nghệ sĩ của đoàn văn công Tổng Cục Chính trị đến biểu diễn cho bộ đội và cho cả tù binh Mỹ cùng thưởng thức. Ông Duyệt còn nhớ một  lần nghệ sĩ Tường Vi đến hát bài  “Cô gái vót chông” và “Tiếng đàn ta lư”. Tới đoạn lên cao như tiếng chim hót “Pơ rô tốc... Pơ rô tốc...”. Mặc dù không hiểu nghĩa cả bài hát, nhưng  tù binh Mỹ khoái  quá, vỗ tay rào rào, yêu cầu hát đi hát lại. Đêm ấy, khi buổi văn nghệ đã tan từ lâu,  nhưng ở nhiều phòng giam, tù binh không chịu ngủ. Họ bàn tán đủ thứ chuyện về các ca sĩ Việt Nam, rồi còn bắt chước giọng Tường Vi hát “Pơ rô tốc... pơ rô tốc...” suốt đêm.

Để  thay  đổi  không  khí  cho  các  tù  binh  đã  phải  ở trong trại lâu ngày, được sự phối hợp giúp đỡ của Công an Hà Nội và An ninh Quân đội, Ban chỉ huy trại còn nhiều lần tổ  chức  cho  các  tù  binh đi  tham  quan một  số  di  tích  lịch  sử,  văn  hóa  và  danh  thắng  của  Thủ  đô  Hà  Nội  như:  Hồ Hoàn  Kiếm,  Công  viên  Lê  Nin,  Quốc  tử  giám,  chùa  Trấn  Quốc,  chùa Một  Cột,  Viện  Bảo  tàng Quân  đội  (nay  là  Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), bệnh viện Bạch Mai... Để  bảo đảm an toàn cho những “vị khách đặc biệt” này, ta đã cho  phép  các  tù  binh  ăn  mặc  như  khách  du  lịch:  Cũng comlê, cavát, giày đen v.v... và đi theo hướng dẫn viên. Tuy nhiên, cũng có lần nhân dân đã phát hiện  ra tù binh Mỹ. Mọi người xì xào: Chuyên gia, khách nước ngoài gì mà mắt cứ nhìn lơ láo, thiếu tự nhiên, đúng là “giặc lái Mỹ” rồi! Vậy là tất cả cùng kéo lại chỉ chỏ, bàn tán, buộc Ban tổ chức phải đưa tất cả lên xe, huỷ bỏ chuyến tham quan dã ngoại theo dự kiến..."
Cũng cần nói thêm là vì chính sách tinh vi này quá khoan hồng và độ lượng nên tháng Tư 1975, chính sách này lại được Hà Nội tái bản và áp dụng cho hàng ngàn quân cán chính miền Nam trong các trại cải tạo.

Đoàn Tụ

Về Mỹ sau thời gian bảy năm "học tập tốt để trở thành công dân tốt," ông trở lại quân đội thăng cấp lên đến thiếu tướng Hải Quân, được bổ nhiệm chức Chỉ Huy Trưởng Trường Tham Mưu Liên Quân đến khi hưu trí năm 1977.  Ông đắc cử vào Thượng Viện Hoa Kỳ đại diện cho Alabama năm 1980 đến 1987.
Ông qua đời thứ Sáu vừa qua tại Virginia Beach, thọ 89 tuổi.

Xem phỏng vấn Ông Denton của Truyền Hình Nhật trên YouTube:

https://www.youtube.com/watch?v=BgelmcOdS38

Friday, January 31, 2014

Khúc Ruột Mễ Kiều



Đức Hà

ENSENADA, Mexico - Người Mỹ gốc Mễ hoặc người Mexicano Americano với trên 34 triệu chiếm 10.9% tổng dân số Hoa Kỳ. Người Mỹ gốc Việt đứng hàng thứ tư nhóm sắc dân thiểu số với khoảng 1.6 triệu. Tuy nhiên cả hai sắc dân này đều giống nhau ở điểm là cộng đồng đông dân hàng đầu ở hải ngoại sau quê nhà và cả hai đều cầy nhiều "gióp" để kiều hối về cho thân nhân ở trong nước.

Thật vậy, cứ thử ghé quan sát mấy dịch vụ gởi tiền của người gốc Mễ "Envío de Dinero" hay gốc Việt (Hoa Phát, Le, Kim Phú ...) sẽ thấy tấp nập nhứt là vào những dịp như Tết Tây Tết Ta chẳng hạn. Vấn đề ở đây là ngưởi Việt hải ngoại rất may mắn có Nghị Quyết 36 ban hành ngày 26 tháng Ba 2004 của Bộ Chính Trị khẳng định “Người Việt Nam ở Nước Ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn động lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ, hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước.” Năm ngoái 2013 cái bộ phận không tách rời đó đã chuyển về nước 11 tỉ đô - đứng hàng thứ chín thế giới, đó là chưa kể tiền Việt kiều đút túi mang về, hay tiền lẻ nhét trong va-li hai đáy. Kiều hối của người Mễ gấp đôi người Việt 22 tỉ và xếp hạng tư sau Ấn Độ, Trung Quốc và Phi. Thật rõ ràng "Nhiếu điều phủ lấy giá gương, người nước trong và người nước ngoài phải thương nhau cùng."

Thế nhưng người gốc Mễ ở Mỹ chắc chắn không được cái diễm phúc được nhà nước ở Mê-Hi-Cô ưu ái quan tâm như người gốc Việt. Chắc hẳn người lãnh đạo tối cao tại thủ đô Mexico City chẳng hề phát biểu đại loại như ..."tiềm năng trí thức của kiều bào được đánh giá là một thế mạnh, nhưng chưa được khai thác hiệu quả; tiềm lực kinh tế cộng đồng cũng rất lớn, nhưng chưa phát huy thật tương xứng và bày tỏ lòng mong muốn bà con Mễ kiều đoàn kết, phấn đấu học tập, thành đạt ở đất khách, thực hiện nghiêm pháp luật của nước sở tại, tích cực làm ăn học tập để cuộc sống ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó, kịp thời đấu tránh với những luận diệu tuyên truyền xuyên tác của các thế lực thù địch... và vv và vv."
Khúc ruột ngàn dặm dù Việt hay Mễ như thế chắc chắn là có và không thể đảo ngược được.

QUY MÃ

Người Việt từng vượt biên, đường bộ đường biển đi tìm tự do; người Mễ cũng thế nhưng để đi tìm miếng ăn - chữ nghĩa bây giờ gọi là để cải thiện cuộc sống, Cảnh Sát Biên Phòng Mỹ - CBP gọi là di dân bất hợp pháp, văn chương một chút mệnh danh là đi tìm Giấc Mơ Mỹ: đằng nào cũng đến La Mã - à quên đến Mỹ. Dạo sau này người Việt trong nước ra đi trật tự hơn, hiện đại hơn và tinh vi hơn bằng đường du lịch - nghĩa là chuyển vào tài khoản ngân hàng một số tiền nhất định theo quy định nhà nước, xin hộ chiếu, nạp đơn du lịch rất nghiêm túc rồi một khi bay đến được đến nước sở tại thì rủ nhau cùng ... biến. Tin cho biết hồi tháng 12 vừa qua, đoàn 15 người xuất phát từ phi trường Nội Bài, Hà Nội, quá cảnh tại Bangkok, Thái Lan trước khi bay đến Israel và bỗng dưng ... bốc hơi. Phẻ re. Người Mễ chưa đạt mức độ dám nghĩ dám làm đến như vậy và vẫn vượt biên theo phương cách truyền thống và chết người để qua Mỹ.

Ước tính có từ 8 đến 20 triệu người Mễ di dân bất hợp pháp đang sống ở Mỹ, báo chí truyền thông hay dùng con số trung dung: 12 triệu. Họ đến Mỹ bằng nhiều cách, vượt đường biên giới dài 1,954 miles giữa Mexico - Mỹ được xem là phổ biến nhứt nhưng họ cũng trốn bằng cách chui vào các công-te-nơ chứa hàng, toa xe lửa chở hàng hoặc dùng ghe vượt 90 miles đường biển để đổ bộ vào vùng Nam Florida mà thường là người Cuba. Nhóm buôn lậu ma túy còn sử dụng tàu lặn, máy bay hay cả đào hầm xuyên biên giới để chuyển hàng và di dân vào Mỹ. Một khi tới Mỹ hay lọt qua cửa khẩu an toàn họ lẩn vào sống chung với thân nhân hay bè bạn đang sống hợp pháp và đã có tịch hay thẻ xanh USA. Họ lao động cực nhọc, làm những việc người bản xứ chê, bị chủ nhân ép giá và thường xuyên bị Cảnh Sát Di Trú - ICE bố ráp, tù tội và rồi ra cũng bị trục xuất về nước. Nếu dành dụm được chút đỉnh lại mau mắn ra dịch vụ "Envío de Dinero" chuyển về nuớc giúp thân nhân để - như lời một ca khúc của cố nhạc sĩ Việt Dũng, "Gởi về cho em chiếc nhẫn yêu thương, Em bán cho đời tìm đường vượt biên..."
Thống kê cho thấy cứ mỗi ngày có chừng 3,000 người Mexican tìm cách vào Mỹ không hợp pháp và chỉ vài trăm người thoát hiểm, còn hầu hết đều bị bắt, chết dọc đường và sau cùng trả về nguyên quán nếu còn nguyên vẹn. Không ít người lại quay vòng, tiếp tục gan lì trở vào Mỹ. Rất có thể có công mài sắt có ngày nên kim. Mài sắt ở đây có nghĩa là leo rào: Người Mỹ đã cho thiết kế khoảng 3,141 km hàng rào cao từ 2.5 đến 6 mét ở vùng biên giới - có nơi hàng rào hai lớp, phần lớn nằm sát các bang New Mexico, Arizona, và California. Thêm vào đó là một hệ thống hàng rào điện tử hiện đại và camera ghi hình kể cả ban đêm để ngăn những người thuộc nhóm Chúng Tôi Muốn Sống.
Thế nhưng một khi được khoan hồng lấy được quốc tịch Mỹ, có bằng lái xe, được phép làm việc, được đi bầu cử ... họ cũng có cơ may trở thành đại gia như người Việt. Và cũng hệt như người Việt thành công hay giả bộ thành công lại xum xoe áo gấm về làng: Nổ.

Nếu ai có dịp du lịch Cancun, Cabo San Lucas, Ensenada ... đều thấy và gặp rất nhiều Mễ kiều về thăm quê hương với cung cách chẳng khác bao nhiêu với Việt kiều về thăm Hà Nội, Huế, Nha Trang, Cần Thơ, Phú Quốc ... Ăn to nói lớn, bạo mồm bạo phổi, nhậu nhẹt tới bến, bạn cũ bồ cũ gặp gỡ thay nhau nổ bể ống bô luôn chưa kể chuyện móc túi ra là giấy 100 xanh mới keng và khó mà không có chuyện dùng nhãn hiệu người nước ngoài để lừa đảo quỵt nợ, lấy vợ lấy chồng giả và mang vào Mỹ dạng hôn thê, hôn phu ... Liệu không biết có bao nhiêu người Mễ phải ca bài "Anh đã lầm đưa em sang đây ..." như các nạn nhân gốc Việt nhưng chuyện bảo lãnh thì 100% sắc dân nào cũng bảo lãnh thôi vì đất lành thì dứt khóat phải đưa thân nhân sang đậu chứ nhẩy.
Một Mễ kiều nhâm nhi chai Tecate tại bến cảng Ensenada, phía nam San Diego tâm sự rằng anh quá may mắn khi sinh ra đã là công dân Hoa Kỳ, bây giờ có gióp ổn định, có nhà có ô-tô sang trọng và có tiền đi tàu cruise về Mễ chơi thường xuyên. Tôi nghe sao thấy hơi quen quen. Anh nói ông bà nội vượt biên giới qua Mỹ lâu lắm rồi và chuyên đi hái dâu, hái cam trong các đồn điền. Thời gian qua đi, hai cụ sinh con đẻ cái, được nhập tịch và nay cả dòng họ đều là cư dân họp pháp ở rải rác nhiều bang ở Mỹ. Tôi hỏi thế trong gia đình có lập hồ sơ bảo lãnh thân nhân không; câu trả lời chắc nịch "có chứ." Càng nghe lại càng thấy quen quen. Đó là hình ảnh của một người Mễ thành công; hình ảnh người chưa hay sắp thành công đều rất dễ thấy tại phía trước các The Home Depot, Lowe's, Ace ... Họ tụ ba tụ năm đợi kiếm công ăn việc làm lấy miếng ăn độ nhật trong đó đa phần là người nhập cư lậu.

KHÚC RUỘT

Hai khúc ruột tuy giống mà lại không giống. Chẳng hạn như người Việt ở nước ngoài vài năm khi về nước đã quên (hay giả đò quên) tiếng Việt nên khi nói chuyện cứ phải chêm tiếng Anh cho nó sang trọng và bị ném đá cáo buộc tội chảnh không biên giới; con trẻ thì ngọng nghịu rặn mãi mới ra tiếng Việt không dấu. Người Mễ ở Mỹ hầu như chỉ nói tiếng Spanish với nhau - cả lớn lẫn bé. Mời vào thử Chợ Trời mà xem, nói chuyện với mình họ nói tiếng Anh giọng Mễ, trao đổi lẫn nhau họ xổ toàn tiếng mẹ đẻ. Ai mà biết họ nói gì với nhau nhưng chớ có bao giờ lớn tiếng chửi thề hay chê mắc chê rẻ bằng tiếng Việt nha, họ hiểu cả đấy.
Người Mễ chỉ xuống đường đòi cải tổ luật di trú. Hồi năm ngoái đạo luật được Thượng Viện thông qua nhưng hiện vẫn bị kẹt mô ở Hạ Viện - theo luật mới này hàng triệu di dân bất hợp pháp sẽ trải qua một tiến trình hội nhập từ hợp thức hóa tình trạng di trú đến cho nhập tịch Mỹ. Chuyện cải tổ rồi ra cũng sẽ thành hiện thực chỉ không biết là bao giờ khi nào mà thôi. Nhưng ai cũng biết vấn đề này thường hay xảy ra vào năm có tổng tuyển cử. Chờ xem. Người gốc Việt không mấy bận tâm chuyện cải tổ luật di dân mà chỉ cần biết bảo lãnh hôn thê nhanh hơn bảo lãnh vợ chồng, bảo lãnh anh em phải mất 12 năm trở lên, bảo lãnh giả bây giờ căng lắm - thế là đủ. Người Việt có hoài bão to lớn hơn vĩ đại hơn nghĩa là quên thân mình để lo toan cho phúc lợi của trên 91 triệu dân bên kia bờ Thái Bình Dương bằng cách luôn luôn đòi hỏi thực thi dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Nào là thỉnh nguyện thư, vận động các đại diện dân cử tại Quốc Hội Mỹ, tham gia các điều trần tại Văn Phòng Cao Ủy của Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền  - OHCHR, và không thể thiếu là biểu tình trước văn phòng các đại diện ngoại giao nhắc nhở những việc làm sai trái. Vì hoàn cảnh chính trị khác nhau, người gốc Mễ không thể hiểu nổi những bức xúc của người Việt.

Mã Đáo Thành Công không biết nhân quyền Việt Nam sẽ ra sao nhưng về phần 12 triệu người Mễ từng nhập cư bất hợp pháp cùng con cái của những người này thế nào cũng sẽ được hợp thức hóa thành công dân Mỹ. Trong khi chờ đợi dù Mễ kiều hay Việt kiều cứ hãy gởi tiền giúp thân nhân sống qua năm Ngọ cái đã.

Mung Xuan Giap Ngo 2014


Wednesday, January 29, 2014

Seoul, Nắng, Nóng và Ve Sâu

Đức Hà

SEOUL - Thoát khỏỉ cơn nóng bức của Saigon, khách du lịch đến thủ đô Hàn Quốc lại phải đối đầu với lò nung hãi hùng không kém ở mức 90+ F hàng ngày và mỗi ngày. 

Cũng như Saigon, nóng ở đây có thêm độ ẩm cao lại càng khiến không khí thêm ngột ngạt, người lúc nào cũng hâm hấp khó chịu. Nhưng để đổi lại, tiếng ve sầu ỉ oi ca hát liên tục tạo thành bản hòa ca đơn điệu nhưng lại phần nào làm dịu bớt sự bực bội của thời tiết, không hàn chút nào như tên gọi. Thật là kỳ lạ, bất cứ nơi đâu có bụi cây, ngọn cỏ là có tiếng ve sầu. Không lẽ ve sầu Hàn Quốc sống còn vì không nghẹt thở vì khói xe gắn máy, không chết vì thuốc rầy và khói thuốc lá. Không biết tại các thành phố khác như thế nào, tại Seoul xe gắn máy - phần nhiều thuộc phân khối lớn, không dày đặc như nêm; trong khi việc hút thuốc nơi công cộng bị cấm triệt để - có cả một đội quân chuyên môn mặc đồng phục nhẹ nhàng nhắc nhở kẻ hút lén (trong đó có bạn tôi.) Tôi đến Hán Thành như vậy và ngay lập tức bị choáng ngập bởi sự phát triển kỳ diệu của đất nước chỉ mới bắt đầu chấp cánh vào thập niên 60' trở lại đây.

Tìm Quá Khứ

Bị Mông Cổ xâm lăng vào thế kỷ 13, rồi đến Nhật đô hộ từ 1910 đến hết Thế Chiến II và sau cùng là chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953 với hơn một triệu người thương vong thì đã quá đủ nếu không nói là dư thừa để xây dựng những tượng đài vinh danh, những bảo tàng tội ác chiến tranh, nghĩa trang liệt sĩ ... Tuy nhiên người Hàn không làm vậy; họ biến sự căm thù (nếu có) và tận dụng tất cả nỗ lực vào công tác xây dựng đất nước rõ ràng là to đẹp hơn, hoành tráng hơn gấp mười ngày trước. 

Theo Wikipedia, 7,000 người biểu tình bất bạo động ngày 1 tháng Ba, 1919 đã bị người Nhật thảm sát, trên năm triệu người bị tập trung lao động trong khi khoảng 200,000 phụ nữ Hoa và Triều Tiên bị buộc làm nộ lệ tình dục cho đội quân Thiên Hoàng. Vào thời kỳ đô hộ Triều Tiên, quân Nhật còn tìm cách xóa bỏ ngôn ngữ bản xứ, ban hành luật buộc người bị trị phải lấy họ Nhật và trước khi rút không quên vơ vết nhiều cổ vật về nước.
Ngay tại Khu Phi Quân Sự (DMZ) nơi vĩ tuyến 38 chia cắt hai miền Nam-Bắc, người ta chỉ thấy duy nhứt các khẩu hiệu với chủ đề kêu gọi đôi bên cùng nhau thống nhứt trong hòa bình. Người ta tin rằng người Hàn ở hai miền - cho dù vẫn có những va chạm đôi khi có cả súng đạn tham gia, cũng đủ sáng suốt và khôn ngoan để tránh đổ máu thêm cho dân tộc. Hiện nay cả hai bên đều nỗ lực xúc tiến chương trình đoàn tụ những gia đình bị ly tán do cuộc chiến hai miền - tuy không liên tục và có lúc chính quyền miền Bắc đe dọa dẹp bỏ, kể cả xóa bỏ miền Nam trù phú nhưng ít ra cũng là một đường lối ôn hòa các lãnh tụ chủ trương giải phóng quốc gia nước tôi không dám nghĩ chẳng dám làm.

Các cung điện, tường thành tại thủ đô Seoul hầu như bị Nhật phá hoại gần hết đều được trùng tu, phục chế trông như mới. Bên cạnh mỗi di tích như vậy đều có một bia đá nhỏ viết lại quá trình hình thành, bị tàn phá và tái dựng lại sau khi Triều Tiên được độc lập. Ngay tại khu phân chia hai miền, người Nam Hàn đã biến thành một khu du lịch với nhiều chiến tích lịch sử và cả một khu vui chơi giải trí. Chẳng hạn con đường sắt từng chạy từ bắc xuống nam bị đứt quãng tại đây trong cuộc chiến Triều Tiên và khách đến thăm còn được xem tận mắt một đầu máy xe lửa lỗ chỗ với 1,020 vết đạn. Bia đá cạnh đó ghi: "Chiếc đầu máy hơi nước này là chứng tích của cuộc chiến bi thảm chia đôi Bắc - Nam. Đầu máy bị bom đánh lật khỏi đường rây và vứt bỏ tại khu vực phi quân sự, lúc đó đang làm nhiệm kéo đoàn tàu chở vũ khí đến Bình Nhưỡng ..." 

Con Người Tử Tế

Với trên 5,000 năm văn hiến, người ta vẫn còn tìm thấy đây đó di tích của nền văn minh cổ nước Triều Tiên, cho dù đã trải qua hai cuộc chiếc tàn khốc do Nhật xâm lăng - thế kỷ 26 và đô hộ cùng đồng hóa cũng do người Nhật từ 1910 đến 1945, và chiến tranh Cao Ly chia cắt đất nước. Trước khi xảy ra những thời kỳ bi thảm trong lịch sử Triều Tiên, quốc gia này đã là một trong những nền văn minh tiên tiến nhất thế giới với nhiều phát minh mới lạ. Bên cạnh những đại công ty điện tử thống trị thế giới, Hàn Quốc còn được xem là một trong những đất nước an ninh nhất thế giới. Và tại Seoul, lời khuyên ghi nhận rằng phụ nữ du lịch một mình tại đây không phải ưu lo về vấn đề an ninh, an toàn cho bản thân. Vào khoảng tháng Tư 1960 sinh viên tại Seoul xuống đường biểu tình hầu như hàng ngày đã làm cho Tổng Thống Lý Thừa Vãn thuộc Đệ Nhất Cộng Hòa phải từ chức để chuyển tiếp qua Đệ Nhị Cộng Hòa; nhưng chẳng bao lâu sau Tướng Phác Chính Hy lãnh đạo một cuộc đảo chánh và thiết lập Đệ Tam Cộng Hòa. Đương kim tổng thống thuộc Đệ Lục Cộng Hòa là bà Phác Cận Huệ, trưởng nữ của Tướng Hy. Chính quyền không còn do quân đội nắm giữ, lối cai trị chuyên chế cũng chấm dứt theo cùng với cảnh sinh viên biểu tình chống nhà nước. Vì là một đất nước tự và dân chủ người dân có quyền bày tỏ quan điểm về bất cứ vấn đề gì - thế nên mỗi khi có đám đông trương biểu ngữ tụ họp tại quảng trường chính thì y như là hàng đoàn cảnh sát lại bủa ra dàn chào kỹ càng.

Nếu có cơ hội lang thang ban đêm, nửa khuya khách bộ hành cứ vô tư đi vào các khu lao động, ngõ hẹp đường mòn .. sẽ thấy người không nhà trùm bao ny-lông ngủ vùi hay say khướt bên đường nhưng nạn móc túi, giật bóp, cướp điện thoại di động, cưỡng hiếp không mấy phổ biến. Wikipedia viết "Nam Hàn có tỉ lệ tội ác thấp hơn những quốc giá có cùng mức độ phát triển kinh tế." 
Có lẽ câu giải thích đúng đắn nhất cho câu hỏi về sự tử tế, tôn trọng luật pháp cao độ của người dân xứ Hàn là do giáo dục, giáo dục và giáo dục cộng với ý thức. Bạn cứ thử vào xem bất cứ một viện bảo tàng nào ở thủ đô sẽ bắt gặp nhiều đoàn học sinh được thầy cô đưa dắt tới để tìm hiểu gương của các bậc tiền bối đã xây dựng nên nước Triều Tiên ngày nay.

Lẽ dĩ nhiên khi phát triển không thể tránh nạn tham nhũng. Chủ tịch tập đoàn Samsung từng phải từ bỏ ghế chủ tịch vì cáo buộc mua chuộc tòa án trong việc tài trợ bất hợp pháp cho các chính trị gia. Báo Economist và nhiều người chống đối tập đoàn khổng lồ này (1/5 kim ngạch xuất khẩu, tương đương 17% tổng sản lượng GDP của Hàn Quốc) cho hay Samsung rõ ràng đã kiểm soát toàn bộ sự nghiệp của các công tố đồng thời sẵn sàng triệt hạ những người có manh nha soi mói vào hành vi của họ. Cuối cùng thì vị chủ tịch mất chức lại trở lại ghế chủ tịch cho dù có cáo buộc (không được tòa công nhận) như đút lót, trốn thuế, ấn định trước giá bán sản phẩm ra thị trường. 

Hàn Quốc vẫn bành trướng sức mạnh và đẩy mạnh thương vụ đi khắp địa cầu và ve sầu vẫn tiếp tục hót suốt mùa hè. 

Hè 2013