Friday, June 26, 2015

Hôn Nhân Đồng Tính



Phải mất 11 năm kể từ khi Thị Trưởng San Francisco Gavin Newsom cho phép cấp hôn thú cho người đồng tính - và từ đó đưa đến biết bao tranh cãi, thưa kiện, xen với nhiều chiến dịch chống đối bài bác, cho đến thứ Sáu 26 tháng Sáu 2015, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết rằng hôn nhân đồng tính là quyền lợi căn bản của con người đã bị từ chối từ lâu nay. 
Kể từ nay hôn nhân đồng tính được hợp thức hóa khắp 50 bang Hoa Kỳ.
Bài viết dưới đây là cuộc nói chuyện với hai cặp đồng tính nữ và nam sinh sống tại Vùng Vịnh sau khi San Francisco quyết định cấp giấy giá thú cho người đồng tính ngày 12 tháng Hai, 2004.

Đức Hà
Việt Mercury

Từ 10 năm nay, Nguyễn Thiên Hương, 30 tuổi, hết lòng yêu thương người bạn đời của mình, vượt qua mọi thành kiến, dị nghị và phê phán. Tháng Tám năm 2000 trước sự chứng kiến của cha mẹ, họ hàng và bè bạn hai họ và của mục sự hội thánh United Church of Christ ở Berkeley, hai người đã làm lễ hôn phối. Tuy nhiên Thiên Hương và Allison Beck, 28 tuổi chưa bao giờ được hợp thức hóa về mặt đời: Họ là cặp đồng tính nữ.
Ngày 12 tháng Hai vừa qua, Thiên Hương và Allison đã là một trong những cặp đồng tính đầu tiên xếp hàng dài bên ngoài tòa thị sảnh San Francisco để được cấp hôn thú chính thức.
“Chúng tôi háo hức, chúng tôi nôn nóng chờ đợi cơ hội này từ bao nhiêu năm nay, được thắt chặt mối giây quan hệ vừa tình cảm vừa tâm lý trước chính quyền,” Thiên Hương kể lại, nét mặt vui tươi hóm hỉnh và thỏa mãn từ căn nhà tổ ấm của hai người tại Oakland.


Kể từ ngày đầu, khi Thị Trưởng Gavin Newsom đưa ra quyết định không được phân biệt giới tính của người lập hôn thú, đã có hơn 3,200 người đồng tính được San Francisco cấp hôn thú và dịch vụ này vẫn còn đang tiếp diễn mỗi ngày cho đến khi nào tòa thượng thẩm ra lệnh đình chỉ. Ông Newsom nói rằng người đồng tính cũng phải được bảo vệ về mặt luật pháp như mọi người.
Thiên Hương, một luật sư về bằng sáng chế thuộc tổ hợp Bingham McCutchen tại San Francisco phát biểu:
“Chúng tôi cũng đóng góp cho cộng đồng, chúng tôi cũng xây dựng một mái ấm gia đình, chúng tôi thương yêu nhau như mọi người và không làm hại ai thì không có lý do gì chúng tôi lại không được sống như một con người mà bị gạt ra ngoài xã hội.”

Chấp Nhận

Lúc 21 tuổi khi còn theo học luật tại trường UCLA, Thiên Hương đã cảm thấy khuynh hướng tình dục của mình khác biệt.
“Hương có bạn trai, từng date bạn trai, nhưng nó thế nào ấy, không trọn vẹn cho đến khi Hương gặp Allison thì rõ ràng tâm đầu ý hợp. Tụi này quyến luyến nhau từ đó,” cô nhớ lại, bộc trực không một chút e dè hay ngại ngùng. Cô còn cho biết ngay từ nhỏ tính tình cô cũng khác với người chị và anh em trong nhà. “Thay vì chơi các trò chơi như nấu ăn, may vá hay búp bê thì Hương lại rất thích các môn thể thao như bóng rổ, bóng chuyền và ném banh softball.”
Nếu Thiên Hương trả lời phỏng vấn và diễn tả như một người chủ gia đình thì Allison Beck, lại nhỏ nhẹ hơn, cũng có lúc bẽn lẽn như vợ nhường cho chồng tiếp khách.
“Chúng tôi san sẽ công việc hàng ngày từ đi chợ nấu ăn đến quét dọn nhà cửa, đổ rác, lái xe, rửa xe... nhưng Allison ở nhà nhiều hơn vì phải trông con nên Hương là người đi làm kiếm tiền,” Allison nói.

Cả hai gặp nhau khi cùng theo học luật, trước tiên tại Los Angeles sau này tại Vùng Vịnh để đến sáu năm sau cùng quyết định làm đám cưới. Cha mẹ của hai cô lẽ dĩ nhiên rất kinh hoàng và chán chường khi biết sự thật, nhưng rồi phải chấp nhận và cảm thông cho hai người con gái.
“Lúc đó cha mẹ của Allison và Hương như trên trời rơi xuống, tưởng rằng trên thế gian này chỉ có hai chúng tôi là người đồng tính duy nhứt.”
Vì muốn xây dựng một gia đình, như mọi gia đình nên Hương và Allison quyết định phải có con, cho dù cả hai đều là phụ nữ.
“Hương không muốn mang thai trong khi Allison lại mong được như vậy; Allison muốn làm mẹ, Hương thì không,” cô nói.
Thế là sau khi nhờ một dịch vụ cấy thai bằng tinh trùng đông lạnh của một người nam vô danh, Allison mang bầu chín tháng 10 ngày và hạ sanh bé trai Theryn Jeffrey Nguyễn kháu khỉnh, đến nay được 17 tháng tuổi.
“Chủ nhân của tinh trùng là một người có hai giòng máu nửa Mễ và nửa Hoa,” Allison hãnh diện giới thiệu  đứa con trai, cô thai nghén y như mọi phụ nữ trên thế gian này nhưng nhờ sự giúp đỡ của khoa học.

Vì bé Theryn được Hương nhận làm con nuôi nên mang thêm họ Nguyễn.
Tuy nhiên chính việc làm không như tạo hóa an bày cho con người, không tự nhiên đã làm dư luận Hoa Kỳ và cả thế giới phải chấn động và tranh cãi.
Hồi đầu tuần này, Tổng Thống Bush tuyên bố ủng hộ việc tu chính hiến pháp cấm đoán hôn nhân đồng tính.
Tổng thống nhấn mạnh rằng ông “tin rằng hôn nhân phải được định nghĩa như là sự kết hợp giữa người nam và người nữ.”
Bản tin của AP còn tường thuật về cảm nghĩ của đệ nhứt phu nhân Hoa Kỳ, bà Lara Bush. Bà Bush nói rằng hôn nhân người đồng tính là một “vấn đề hết sức sửng sốt, khó coi” đối với nhiều người và cần được thảo luận giữa những người dân Mỹ thay vì do phán quyết của tòa Massachusetts hay của thị trưởng San Francisco.
Thống kế của US Census Bureau cho biết Vùng Vịnh là nơi có nhiều  cặp đồng tính sinh sống hơn cả, và Berkeley là thành phó đông người đồng tính nhứt, kế đến là Oakland. Toàn California có 92,000 cặp đồng tính trên tổng số 472,289 cặp có khai báo trong thống kế Census 2000. Người ta ước tính tại Bắc Cali có khoảng 200 người đồng tính gốc Việt, và 600 tại Nam cali.

Nguyên Do

Khoa học đã tìm cách giải thích khuynh hướng dục tính của con người. Và theo hiệp hội American Psychological Association (www.APA.org ) phần lớn các nhà nghiên cứu chấp nhận lối giải thích cho rằng khuynh hướng dục tính thường là do hệ quả của tác động hỗ tương phức tạp giữa các yếu tố môi trường, nhận thức và sinh lý. Trong phần lớn con người, khuynh hướng dục tính  được hình thành từ thủa ấu thơ. Gần đây lại có nhiều bằng chứng gợi ý rằng các yếu tố sinh lý, kể cả gen hay hóc-môn di truyền, cũng có vai trò quan trọng trong việc kết tạo ra khuynh hướng dục tính của con người. Tuy nhiên theo APA, có thể có nhiều nguyên nhân đưa đến khuynh hướng dục tính, và các nguyên nhân này không đồng nhứt cho mọi người.
Luật sư Thiên Hương giải thích:
“Hương cũng như Allison không chọn cho mình một thiên hướng tính dục, không chọn cho mình là người gay hay lesbian. Hương và Allison sinh ra như vậy, đồng tính không phải là một căn bệnh tâm thần hay tâm lý, cũng không phải là một vấn đề của xã hội.”
Hương theo đạo Phật và Allison là người ki-tô giáo và cả hai đều cùng tìm được câu giải đáp khi đến với United Church of Christ ở Berkeley, một hội thánh có sinh hoạt cởi mở chấp nhận mọi xu hướng dục tính của tín hữu.
“Hai chúng tôi đã tìm được sự bình an nơi tâm hồn, một cuộc sống tâm linh và tâm lý ổn định và có ý nghĩa,” Hương nói.

Gia đình chấp nhận, hội thánh công nhận, hàng xóm, sở làm, bè bạn … đều mặc nhiên bằng lòng, vậy tại sao lại phải cần đến tờ giấy hôn thú?
“Tờ hôn thú là một chứng nhận về mặt hộ, chứng nhận chúng tôi kết hôn hợp pháp trước nhà nước California. Từ tờ giấy đó nảy sinh ra một loạt những hệ lụy khác như quyền thừa kế, quyền lợi về gia đình có con nhỏ, quyền của người phối ngẫu, quyền lợi về thuế má … và đó là điều chúng tôi cần phải có trước pháp luật,” Allison trả lời bằng tiếng Anh.
Allison dự trù sẽ sanh thêm đứa con thứ hai để “Theryn có bạn,” theo lời Thiên Hương và sau này có thể nhận con nuôi từ Việt Nam.
Cho đến nay, cho dù tòa thượng thẩm cảnh cáo rằng San Francisco đã vi phạm luật, nhưng lại không ra lệnh ngưng ngay tức khắc việc làm hôn thú cho người đồng tính trong khi Thị Trưởng Gavin Newsom lại thề quyết sẽ tiếp tục cấp hôn thú cho đến khi nào bị chính thức ngăn cấm.

Hiểu và Thương

Chỉ cách căn hộ của bộ ba Hương-Allison-Theryn mươi phút lái xe là căn nhà của cặp đồng tính nam Nguyễn Quốc Chính và Phil Porter. Tuổi đời nhiều hơn – cả hai đều 50, kinh nghiệm sống nhiều hơn nên suy nghĩ về hôn nhân đồng tính của Chính và Phil cũng khác biệt hơn.
Cả hai từng lập gia đình, cũng thương yêu vợ con nhưng chỉ cảm thấy hạnh phúc thật sự, cảm thấy “hạp nhau hơn” khi hai người gặp nhau cách 17 năm và sống chung được 10 năm kể từ 1994.
“Trước luật pháp tôi vẫn là chồng là cha của ba người con, một trai và hai gái,” ông Chính kể lại và giải thích rằng tiến trình ly dị rất phức tạp và nhiêu khê nên cả hai vợ chồng thỏa thuận vẫn giữ nguyên hôn thú.
“Chúng tôi vẫn là bạn tốt, sống với nhau vì nghĩa và cùng chăm lo con cái cho dù nay đã lớn cả rồi và hiện sống ở Fremont.”

Lúc đầu ông Chính, một chuyên viên điện toán, chọn bạn trai người Việt để “có thể chia xẻ nguồn gốc và văn hóa, văn chương Việt,” nhưng về lâu dài lại không được.
Ông nói: “Khi sống chung thì người bạn trai Việt của tôi đặt thành vấn đề như ai là vai chồng, ai đóng vai vợ hay ai là người kiếm tiền nuôi gia đình… nhưng với Phil vấn đề đó không đặt ra.”
Phil Porter, một mục sư thuộc hội thánh First Congregational Church of Berkeley, từng có vợ rồi chia tay và sống với partner người da trắng trước khi gặp ông Chính cho rằng đó là tiến trình biến đổi của cuộc sống nội tâm.
“Cuộc sống chung nào cũng phải hội đủ nhiều yếu tố mới bền vững,” ông nói.
Khi hỏi về người đồng tính đang mong muốn hợp thức hóa hôn nhân, ông Chính tâm sự:
“Tôi nghĩ đây là khởi đầu của một đổi thay lớn ở Hoa Kỳ. Sự kiện San Francisco sẽ không phai mờ vì vấn đề này va chạm đến cốt lõi của cuộc sống. Đó cũng là tiếng chuông gióng lên để đánh thức mọi người hãy mở lòng tìm biết đến những bất công mà người đồng tính phải gánh chịu từ bao lâu này để hiểu và thương.”
Ông đặt câu hỏi: “Có ai trong chúng ta biết chắc được rằng ông bà, cha mẹ, con cái chúng ta không phải là người đồng tính hay không?”

Tuy nhiên bốn năm trước đây cử tri California đã chấp nhận Đề Luật 22 theo đó hôn nhân được định nghĩa là sự kết hợp chỉ giữa người nam và người nữ. Hai tổ chức – Campaign for California Families và Proposition 22 Legal Defense and Education Fund chống đối quyết định của San Francisco và nói rằng thành phố đã phạm luật và đang làm thủ tục kiện thưa.
“Chúng tôi không hề làm hỏng cơ cấu của một gia đình hay xã hội, chúng tôi thương yêu nhau và tin rằng cuối cùng tình yêu sẽ vươn lên trên tất cả, nhưng đó là một tiến trình lâu dài và phức tạp,” Thiên Hương nhận xét.

                                                Bài  được đăng trên Viet Mercury số 266 02/27/2004

Thursday, June 18, 2015

Đời Phi Công ở Mỹ



Đức Hà
Việt Mercury

Người Việt định cư tại Mỹ đã có dịp sử dụng rất nhiều phương tiện hàng không để di chuyển trong nước cũng như ra nước ngoài nhưng ít người biết rằng trong một chuyến đi nào đó, trên phòng lái lại có một phi công gốc Việt. Ngoài ra gói hàng mà quý vị nhận do công ty UPS giao tận nhà có thể đã được phi cơ của UPS vận chuyển mà phi công cũng là một người gốc Việt.
Hiện nay có bốn phi công gốc Việt bay cho các hãng hàng không Mỹ là American West, Continental, US Airways và UPS. Tất cả đều là phi công quân sự của Không Lực Việt Nam trước năm 1975.
Rất nhiều phi công Việt Nam đã sang định cư tại Mỹ nhưng cũng như nhiều di dân khác đều phải bỏ nghề và chuyển sang nghề khác thì lại có những người may mắn tiếp tục nghề chuyên môn cũ của mình.

Phạm Quang Khiêm là một trong bốn phi công gốc Việt tiếp tục sự nghiệp bay bổng của mình. Ông hiện bay loại phản lực Airbus chở khách cho US Airways trên các đường bay nội địa ở Mỹ.
Vào tháng Tư năm 1975, trung úy Không Lực Việt Nam Cộng Hòa Phạm Quang Khiêm đã được báo chí và người di tản nói đến nhiều cùng với những diễn biến khác của biến cố ngày 30 tháng Tư.
“Tôi đã lấy một chiếc vận tải cơ C-130 đáp xuống một phi đạo bỏ hoang và chở đại gia đình nội ngoại cùng bà con, tất cả là 52 người rồi bay thẳng qua Singapore,” ông Khiêm kể lại.
Ông Khiêm, người tÿ nạn đầu tiên ra khỏi nước trong tháng Tư cách nay 25 năm, nói rằng ông đã thi hành nhiều phi vụ chở người di tản từ Đà Nẵng và Nha Trang nên được chứng kiến những cảnh hỗn loạn, đè đạp lên nhau để lên phi cơ nên ông thấy cần phải tìm mọi cách đưa gia đình ra khỏi nước trước khi tình hình trở nên quá xấu.


Dám nghĩ và dám làm, ngày 3 tháng Tư thay vì chở gạo tiếp tế cho một căn cứ ở Phan Rang, ông đã đáp phi cơ xuống Long Thành để chở toàn bộ gia đình - có hẹn trước và trực chỉ đi Singapore. Tại đó ông bị chính quyền địa phương giam một thời gian ngắn trước khi được đi định cư tại Hoa Kỳ.
Chiếc C-130 đó đã được đem về Mỹ và sẽ được trưng bày tại viện bảo tàng Smithsonian Air Museum đặt cạnh phi trường Dulles ở Virginia vào năm 2003 với cờ vàng ba sọc đỏ sơn bên hông y như khi được đưa ra khỏi Việt Nam năm 1975 cạnh chiếc khu trục cơ A-1 Skyraider lấy từ căn cứ Không Quân Biên Hòa.

Ông Khiêm đã bắt đầu nghề phi công tỵ nạn của mình bằng những công việc thấp nhứt như lái xe bồn đổ xăng cho phi cơ tại một phi trường nhỏ ở thành phố Fullerton, sang đến lái phi cơ taxi hai động cơ chở khách trên những lộ trình ngắn, rồi chuyển sang lái Boeing 727 chở hàng cho UPS, rồi 737 cho hãng Piedmont trước khi chuyển sang hãng US Airways cho tới nay.
Với 30 năm trong nghề lái báy may trong đó có 17 năm lái phản lực cơ chở khách tại Mỹ, ông Khiêm có được một số kinh nghiệm về nghề lái phản lực cơ chở khách mà nhiều người thắc mắc muốn biết lại không biết hỏi ai.

Chớ có mà léng phéng!

Ai đi máy bay cũng thấy trên đó có những nữ tiếp viên hàng không, có cô thì xinh và trẻ, có bà thì luống tuổi và nhan sắc không sao bì được với mấy cô trên Singapore Airlines chẳng hạn; nhưng mấy ông pai-lốt bay chung và ở chung với mấy cô trong cùng một khách sạn nhiều ngày liền, vậy có “léng phéng” gì được không?
Ông Khiêm cho biết: “Hồi xửa hồi xưa, nghĩa là trước năm 1975 có xảy ra những vụ chọc ghẹo mấy cô, nhưng từ ngày vấn đề sách nhiễu tình dục trở thành món thưa kiện béo bở cho luật sư và cho các cô và làm tiêu luôn sự nghiệp của các ông thì mọi người trong phi hành đoàn đều chỉ quan hệ nhau một cách trong sáng và nghiêm chỉnh.”
Ông Khiêm nói thêm rằng không biết các hãng máy bay nước ngoài thì sao, nhưng đối với hãng Mỹ thì hãng nào cũng vậy, đều bắt nhân viên học các lớp về sexual harrassement rất kỹ cho nên không ai dám “có những lời ong bướm nữa.”
Ông Nguyễn Ngọc Châu Phòng hiện bay cho hãng UPS bày tỏ rằng trên mỗi chiếc máy bay của UPS chỉ có đúng hai người lái (cho loại Airbus) hoặc ba người lái (cho loại Boeing) vì khoan sau chỉ toàn chở những thùng hàng đâu cần có nữ tiếp viên nên tuy “hơi buồn” vì thiếu  bóng dáng giọng nói, mùi nước hoa của người nữ nhưng không bao giờ phải lo ngại chuyện “quan hệ tình cảm bất chính.”
Ông Khiêm khẳng định: “Nếu phi công muốn uống cà-phê, trà hay sữa thì OK nhưng các món khác thì không-OK.”

Cấp bậc và lương bổng

Cấp bậc trong ngành phi công dân sự là flight engineer thấp nhứt, co-pilot và sau cùng là captain, chức vụ cao nhứt.
Ông Khiêm nói rằng bắt đầu vào lái cho bất cứ hãng nào cũng phải khởi đầu bằng chức flight engineer tuy chẳng là kỹ sư gì cả - ai cũng vậy, bất kể thâm niên và kinh nghiệm ra sao.
Ông nói: “Nếu một phi công lão luyện của hãng A chuyển sang hãng B thì lại bắt đầu bằng chức thấp nhứt flight engineer là ngồi không và trông chừng các đồng hồ máy móc trên phi cơ.”
Vì lý do đó nên trong một phi hành đoàn người già nhứt, nhiều giờ bay nhứt và nhiều kinh nghiệm nhứt có thể không phải là phi công chánh.
Hiện nay các loại máy bay kiểu mới rất ít đồng hồ nên chỉ còn hai người lái và vai trò flight engineer không cần thiết nữa.
Ông Khiêm giải thích: “Nếu trong một hãng máy bay chỉ có loại phi cơ sử dụng hai người lái, nghĩa là một trưởng phi cơ và một phi công phụ thì lẽ dĩ nhiên người mới tuyển vào được ngay ghế phi công phụ.”
Từ chức thấp nhứt flight engineer lên chức vụ phi công phó rồi trưởng phi cơ không tùy thuộc vào thời gian mà tùy vào chỗ trống và vấn đề dự tranh; Nghĩa là nếu có một trưởng phi cơ nghỉ hưu trí thì có một chỗ trống và bên dưới cứ vậy đôn lên. Ông Phòng chỉ phải ngồi ghế phi công phụ có hơn một năm rồi lên ghế trưởng phi cơ vì hãng UPS bành trướng do đó cần bổ xung ngay các captains cho đội ngũ phi công của mình. Ông Khiêm trái lại, phải giữ chức vụ phi công phụ từ cả chục năm nay. Ông nói rằng tuy phân biệt phi công chánh và phi công phụ nhưng cả hai làm việc và quyền hành như nhau không như người thường hay hiểu lầm là “người chánh có nhiều quyền hành hơn người phụ.”
Về lương bổng thì phi công ăn lương theo giờ bay từ 180 đến hơn 200 đô la/giờ và hàng năm không được bay quá 1,000 giờ bay.
“Nếu cứ tính một cách đơn giản như vậy thì lương căn bản của một phi công là 200,000 đô la/năm,” ông Khiêm nói.
Ông nhấn mạnh thêm rằng không phải vô nghề bay với một hãng hàng không là được lãnh mức lương đó.
Ông nói: “Mới vô nghề năm đầu tiên thì người nào cũng chỉ lãnh 1,500 đô la/tháng mà thôi, sau đó mỗi năm được tăng 20,000; sau 5 năm thì một phi công lãnh mức lương 100,000 đô la cộng thêm với nhiều quyền lợi.”
Với mức lương 100 ngàn thì theo ông Khiêm nghề lái máy bay tương đối “kiếm tiền nhiều  hơn một kỹ sư sau 5 năm ra trường.” Vì vậy ông Khiêm có lời nhắn nhủ với lớp thanh niên Việt là nếu thích cuộc sống bay bổng với đồng lương 6 số thì có thể và nên mạnh dạn chọn nghề bay jet.
“Có thể mượn tiền đi học lái loại phi cơ nhỏ rồi từ từ đi lên, hoặc theo học các trường đại học có thêm chương trình dạy láy máy bay và sau 4 năm vừa có bằng đại học vừa có thêm bằng lái,” ông Khiêm nói.

Vậy điều kiện sức khỏe thì sao?

Khác với phi công quân sự, phi công dân sự không đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện khó khăn về sức khỏe, như chiều cao và tai mắt phải thật hoàn hảo.
“Sức khỏe bình thường, mắt cận thị cũng không sao, cao thấp chẳng thành vấn đề; tôi thuộc loại đàn ông lùn 5.3 feet nhưng trong công ty còn có người thấp hơn tôi nữa,” ông nói.
Ông cho biết lớp phi công tới tuổi về hưu ngày càng nhiều mà các hãng máy bay tiếp tục mở rộng nên trong tương lai 5 hay 10 năm nữa các hãng cần rất nhiều phi công trẻ.
Lái máy bay theo lời ông Khiêm, không đòi hỏi nhiều trí thông minh hay tài giỏi gì và bây giờ lại có thêm máy điện toán trợ giúp nên điều khiển phi cơ trở nên “quá dễ dàng.” Người Việt mình đã học ra kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ thì “học ra phi công đâu có gì mà ngại ngùng,” ông Khiêm nhấn mạnh.
Ông Phòng của UPS Airlines lại khuyến khích cả các cô gái gốc Việt nếu thích bay bổng đi đây đi đó và kiếm tiền không kém phái nam thì nên chọn nghề bay.
Ông nói: “Dân thiểu số và phái nữ luôn luôn được các hãng dành cho mối ưu ái đặc biệt.” Ông còn cho biết thêm rằng hiện nay hàng tuần UPS đều có một chuyến bay đến phi trường Tân Sơn Nhứt, nên nếu ai muốn đi Việt Nam hàng tuần thì xin gia nhập ngay UPS Airlines.

Phi công nào giỏi nhứt?

Nhiều người hay hiểu lầm rằng phi công các hãng nước ngoài không kinh nghiệm hay bay kém hơn phi công Mỹ, “điều này hoàn toàn sai” theo lời ông Khiêm.
Tất cả các phi công trên toàn thế giới khi học lái loại Boeing đều phải qua Mỹ học; nếu không được chấm đậu thì không thể nào lên ngồi ghế tay lái được. Ông cho biết khi liên lạc vô tuyến thì các phi công nước ngoài có thể nói tiếng Anh với giọng khó nghe nhưng tay lái thì vững và hiểu rõ những ngôn từ về hàng không như nhau. Thế nhưng nếu phi cơ gặp trở ngại thì một phi công nhiều kinh nghiệm có thể sẽ phản ứng chính xác hơn một phi công mới vô nghề.
Ông cho biết phi cơ là phương tiện di chuyển an toàn nhứt nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra tai nạn là vì phải xảy ra tai nạn người ta mới biết lý do tại sao để sửa chữa và đề phòng.
“Mỗi năm các phi công phải đi học bổ túc tay nghề hai lần và lớp học này chỉ huấn luyện có một việc duy nhứt là cất cánh lên trời, tắt một máy hoặc tắt hai máy hoặc đưa phi cơ vào trong những tình huống khó khăn nhứt và phi công phải tập đáp sao cho an toàn,” ông Khiêm cho biết.
Ông nói có điều rất lạ là khi máy bay chạy đủ hai, ba hoặc bốn ống phản lực thì phi công có thể đáp “dở” không êm ái và nhẹ nhàng nhưng khi bị trục trặc máy móc lại đáp rất hay vì “lúc đó pai-lốt tập trung tư tưởng rất cao và trổ hết tay nghề.”

Boeing hay Airbus?

Hiện nay nhiều hãng máy bay Mỹ đã được trang bị bằng loại phi cơ do hãng Airbus của Âu châu chế tạo. Câu hỏi đặt ra là phi cơ do Mỹ chế tạo là nhứt thế giới sao lại mua máy bay của ngoại quốc?
Câu trả lời thật giản đơn: rẻ và hiện đại.
“Airbus rất tối tân, dễ bảo trì, uống ít xăng và rẻ,” ông Khiêm giải thích.
Ông nêu thí dụ với cùng một số tiền và mua kiểu máy bay tương đương thì có thể mua 12 chiếc Airbus trong khi chỉ mua được 11 chiếc Boeing mà thôi.
Ông nói: “Ngoài vấn đề giá cả, Airbus sử dụng ít xăng và đó là điều các hãng ưng ý nhứt vì chỉ tiết kiệm một xu cho một gallon xăng thôi thì hãng tiết kiệm được bạc triệu.”
Với số lượng mấy trăm máy bay hoạt động liên tục không ngưng nghỉ 24/24 thì tiết kiệm xăng là điều bức thiết hàng đầu của các hãng hàng không; cho dù khi xăng lên giá các hãng đều tăng giá vé bằng một khoản phụ thu xăng nhớt mà khách đi máy bay phải chịu.
Ông Khiêm và ông Phòng đều cho biết là về mặt hiện đại, máy bay do Boeing chế tạo kém xa Airbus nếu không kể chiếc Boeing 747/400 hay 777 mới ra lò sau này. Thật vậy, trên Airbus chỉ có đúng mấy cái màn hình monitor và điều khiển hoàn toàn bằng máy điện toán.
Ông Khiêm gỉai thích: “Trước khi thi hành một phi vụ chở khách, viên phi công chỉ cần cho máy điện toán trên phi cơ biết hết mọi dữ kiện kể cả lộ trình, thế là computer sẽ tuần tự ra lệnh cho bay đến nơi đến chốn kể cả đáp.”
Ông nói vai trò của phi công chỉ là đưa phi cơ ra đường băng và tống ga cho máy bay vọt về phiá trước, ngốc đầu lên, sau đó xếp bánh xe, xếp cánh cản (flaps) và khi đủ cao độ 1,000 feet thì bấm nút auto-pilot và ngồi … chơi.
“Máy điện toán sẽ đưa phi cơ đi đúng hướng và sau cùng đáp xuống an toàn, đúng sách vở,” ông Khiêm nói. Nhưng các phi công ít khi để cho máy làm công việc này mà thường thì các phi công đều tự tay điều khiển cho phi cơ chạm bánh trở lại với mặt đất.

Quyền lợi của nhân viên phi hành

Ông Khiêm của US Airways nói rằng về việc di chuyển bằng đường hàng không đối nhân viên phi hành nghĩa là cả tài xế ngồi phía trước lẫn tiếp viên ngồi phía sau thì “không thành vấn đề.”
Với cái thẻ flight crew nhân viên phi hành có thể sử dụng bất cứ phi cơ của hãng nào để di chuyển mà không phải mua vé, miễn là có chỗ trống.
Chỗ trống nói ở đây là chổ ngồi sau viên phi công trên phòng lái, chứ không phải chỗ trống trong khoan dành cho hành khách.
Ngoài cá nhân phi công hay tiếp viên được sử dụng phi cơ miễn phí mà luôn cả gia đình vợ con kể cả cha mẹ ruột.
“Cha mẹ vợ thì không được, vì mấy ông pai-lốt cứ thay đổi vợ hoài hoài nên người ta không cho cũng đúng,” ông nói.

Vì có quyền sử dụng phi cơ hàng không dân sự bất cứ vì lý do riêng hay công nên nhân viên trong đội bay không nhất thiết phải ở ngay tại căn cứ xuất phát mà ở đâu cũng được trên nước Mỹ, miễn là chỗ đó có phi trường.
Ông Khiêm nêu thí dụ: “Thường thường thì người ta chọn bay lộ trình xuất phát từ phi trường gần nhà nhứt nhưng nếu nhà ở thành phố khác thì chỉ việc quá giang phi cơ bạn đến phi trường xuất phát để làm việc và ở tại khách sạn; khi xong thì lại quá giang phi cơ bạn về nhà mình.”
Với mức lương 6 số, một cuộc sống bay bổng mà phần lớn thời gian là “trên mây, gần trời và xa đất” và được hưởng nhiều quyền lợi về du lịch, cả hai phi công Khiêm và Phòng đều cho rằng nghề bay rất thú vị và đầy thử thách.
“Đưa mấy trăm hành khách đến bến an toàn là niềm vui chung của mọi phi công chúng tôi,” ông Khiêm nói.

Đọc thêm: Di Tản Qua Mỹ
Bà Quả Phụ MS Phạm Văn Năm
http://www.mytnpa.org/index.php?option=com_content&task=view&id=658&Itemid=142

                                               Bài  được đăng trên Viet Mercury số 98 12/08/2000

Saturday, May 30, 2015

Chị Năm Mông-Rê-An



Đức Hà

MONTRÉAL (Canada) - Nếu có ai hỏi “Sao, dạo này sinh hoạt Chị Năm như thế nào rồi?” thì câu trả lời sẽ rất trong trắng ngây thơ cụ: “Chị Năm nào cơ?” Làm như không biết gì.
Quả thật vậy, Chị Năm - người tình không chân dung, người bạn không biết giận hờn ganh ghét, không nhỏng nhẻo, không vòi vĩnh, cứ đêm đến là đúng hẹn … của thủa thanh niên tràn đầy sinh lực từ lâu lắm rồi đã rời khỏi sân khấu lúc nửa khuya khi diễn viên chính rửa tay gác kiếm. Nói rõ hơn là kể từ khi trung ương bảo, địa phương dứt khoát không nghe. Chị Năm đã ca bài “Thúy đã đi rồi” nhưng hôm nay lại xuất hiện hiên ngang và hùng dũng mỹ miều đúng vào dịp tháng Năm tháng được mệnh danh là International Masturbation Month.

Tháng Năm

Cách nay đúng 20 năm, chính xác là vào ngày 7 tháng Năm, 1995 lần đầu tiên trên thế giới người ta đã chọn một ngày để vinh danh chuyện đó. Công ty Good Vibrations ở San Francisco chọn 7 tháng Năm là ngày bảo vệ quyền được làm bạn với Chị Năm. Lúc đó tên gọi là National Masturbation Day, còn có tên khác là International Masturbation Day. Câu chuyện bắt đầu khi Bộ Trưởng Y Tế thời Tổng Thống Clinton, bà Joycelyn Elders bị ngưng chức vì gợi ý rằng việc làm bạn với Chị Năm là một phần trong chương trình dạy dỗ về tình dục cho sinh viên học sinh. Bà chính thức rời khỏi nhiệm sở ngày 9 tháng Mười Hai, 1994. Thế là từ đó ngày International Masturbation Day được mở rộng và bao gồm nguyên tháng Năm; tên gọi chính thức cũng đổi thành International Masturbation Month. Không biết chuyện “năm, mười, mười lăm …” có thành một môn học ở trường lớp hay không nhưng rõ ràng là có sự khuyến khích động viên.

Journal Métro de Montréal

Nhật báo Journal Métro de Montréal - gọi tắt là Métro, thường được phát không cho hành khách đi xe điện ngẩm ở Montréal, và tự giới thiệu ngay trên manchette là có nhiều độc giả nhất trên đảo Montréal đã dành cả trang báo để vinh danh Chị Năm.
Trang 21, mục Sex Dans La Ville của tờ Métro ra ngày 19 tháng Năm chạy hàng tít lớn: “Guide de Masturbation pour Elle et pour Lui” – mời xem bài đăng trên trang mạng tại đây: 

tạm dịch:”Cẩm nang tự sướng cho nàng và cho chàng” (tự sướng ở đây phải hiểu nghĩa đen và chẳng dính dáng gì với từ selfie)
Xin được chuyển ngữ phần mở đầu thôi, phần nội dung quá nhiều chi tiết gợi cảm và nhậy cảm xin quý vị đọc thẳng giùm bằng Pháp ngữ từ link nói trên.

“Sexo. Bạn có biết là có nhiều điều thú vị cực kỳ với việc tự sướng không? Sự thật là như vậy đấy! Đó là một phương thức tuyệt vời để khám phá và tìm hiểu cơ thể, cũng như nắm bắt những ham muốn nào nhiều nhất của bản thân về tình dục và có cả ngàn lẻ một cách để nhập cuộc. Dưới đây là vài gợi ý nho nhỏ để bạn đạt được khoái cảm tối đa…”

Sau đó tác giả Véronique Vincelli đã dành hai phần Pour Elle (cho nàng) và Pour Lui (cho chàng) để mô tả cụ thể cách thức tự sướng hầu đạt đỉnh tối đa với nỗ lực tối thiểu. Tác giả nhấn mạnh là đừng nên hấp tấp vội vàng hầu nhanh chóng giải tỏa nỗi niềm dâng trào với nhịp độ ma-xát mỗi lúc mỗi tăng cao mà hãy từ tốn, nhẹ nhàng, chậm rãi khoan thai để hưởng trọn vẹn thời gian giao lưu với ... Chị Năm. Vincelli còn gợi ý rằng khi sắp sửa òa vỡ ở đỉnh cao thì hãy cố nín và dừng lại, hít thở thật sâu và bắt đầu lại như chưa có gì - và đó là cách tối ưu để giữ chân Chị Năm dài lâu.

Tuy là bàn chuyện tình dục nhưng rõ ràng bài viết không nhằm mục đích khiêu dâm, kích dục kiểu “Cô Giáo Thảo” vì ngay trang đầu tòa soạn báo Métro đã khẳng định tháng International Masturbation Month được thành hình nhằm phá bỏ những taboos trong vấn đề tự sướng qua trung gian cùa sự nhậy cảm và những cuộc thảo luận nghiêm chỉnh. Vì biên giới giữa chuyện kích dục và giáo dục giới tính rất mong manh cho nên hiểu thế nào cũng được tùy quan niệm khắt khe hay cởi mở tiến bộ của từng cá nhân.
Sau cùng thì với những thành quả đạt chất lượng cao của Chị Năm thì một nghị quyết vinh danh chị là điều cấp thiết phải làm.

Nghị Quyết

XÉT RẰNG, Chị Năm đã đóng góp nhiều công sức trong việc giải tỏa stress, những ấm ức không biết tỏ cùng ai, và là người tình không thể thiếu lúc nửa đêm về sáng; và

XÉT RẰNG, Chị Năm đã một mực thủy chung thắm thiết với chủ thể trong mọi hoàn cảnh, không phân biệt chính kiến hay xu hướng tình duc; và

XÉT RẰNG, Chị Năm là niềm hạnh phúc vô biên của mọi thế hệ thanh niên nam nữ dưới mọi chế độ. Sông có thể cạn, núi có thể mòn Chị Năm mãi mãi là niềm tin yêu và hy vong.

Bởi vậy, đề nghị toàn thể nhân dân một lòng ủng hộ nghị quyết công nhận:
Tháng Năm là tháng vinh danh Chị Năm để cùng hòa đồng với bè bạn khắp năm châu liên hoan mừng International Masturbation Month. 

Sunday, May 3, 2015

Ford's Finest Legacy



By Quang X. Pham
Saturday, December 30, 2006

Quang X. Pham, who was born in Saigon, served as a Marine pilot in the Persian Gulf War. He is a businessman and the author of "A Sense of Duty: My Father, My American Journey." 

"Today, America can regain the sense of pride that existed before Vietnam. But it cannot be achieved by refighting a war that is finished as far as America is concerned. . . . [T]hese events, tragic as they are, portend neither the end of the world nor of America's leadership in the world."
President Gerald R. Ford uttered those words in a speech at Tulane University on April 23, 1975, in the final days of Vietnam's long war. The rowdy crowd roared and gave him a standing ovation. The military draft had ended and American troops and POWs had returned home two years earlier. America had washed its hands of Vietnam, yet millions of lives were still at stake.

 Halfway around the world, my family experienced the unfolding of those tragic events in South Vietnam. For us, it was the worst of times. It seemed like the end of the world to me. I was only 10.
Dwight D. Eisenhower had sent American military advisers to Vietnam to help contain communism and prevent the "dominoes" from falling in Southeast Asia. John F. Kennedy dispatched thousands more in a graduated response to a burgeoning insurgency. Lyndon B. Johnson broke his promise not to send "American boys nine or ten thousand miles away from home to do what Asian boys ought to be doing for themselves." Richard M. Nixon prolonged the killing for another three years despite having a secret plan to end the longest American war ever.

In the end, after two decades of flailing diplomacy in that tiny peninsula, Gerald Ford dealt with the aftermath: empty guarantees made to an ally, promises he could not keep and a "peace with honor" that the congressional Watergate class would not enforce.
Years later Ford wrote a letter to the group of Marines who had evacuated the U.S. Embassy in Saigon. In it he said, "April 1975 was indeed the cruelest month. The passage of time has not dulled the ache of those days, the saddest of my public life."
But Ford became the savior to those lucky enough to escape the taking of Saigon by the North Vietnamese army. "I pray no American president is ever again faced with this grave option," Ford said at a public forum on the legacy of the Vietnam War 25 years later. "I still grieve over those we were unable to rescue." He added that he was thankful America was able to relocate 130,000 Vietnamese refugees (less than 1 percent of South Vietnam's population) and that "to do less would have added moral shame to humiliation."

My family and those other blessed South Vietnamese found ourselves stuck in refugee camps across the United States. Outside the camps, public sentiment against Vietnamese refugees ran high, although at the time we did not feel it directly. The book on Vietnam had been closed for most Americans until the refugees arrived in unprecedented numbers. Only the Hungarian and Cuban refugee resettlements were of comparable scale. Newspapers portrayed the country as split on what to do with the refugees.
In a May 1975 article in the New York Times, Sen. Robert Byrd (D-W.Va.) commented that "barmaids, prostitutes and criminals" should be screened out as "excludable categories." Sen. Joe Biden (D-Del.) "charged that the [Ford] Administration had not informed Congress adequately about the number of refugees" -- as if anyone actually knew during the chaotic evacuation. "I think the Vietnamese are better off in Vietnam," sniffed George McGovern in Newsweek.
At the time, unemployment in the United States hovered near double digits. Perhaps this had something to do with the anti-refugee emotion. In Larry Engelmann's "Tears Before the Rain: An Oral History of the Fall of South Vietnam," Julia Vadala Taft, head of the interagency task force for refugee resettlement, recalled such opposition. "The new governor of California, Jerry Brown, was very concerned about refugees settling in his state. Brown even attempted to prevent planes carrying refugees from landing at Travis Air Force Base near Sacramento. . . . The secretary of health and welfare, Mario Obledo, felt that this addition of a large minority group would be unwelcome in California. And he said that they already had a large population of Hispanics, Filipinos, blacks, and other minorities."

The refugees were extremely fortunate. Our biggest supporter, outside of Julia Taft, was the president of the United States. Even though he had described the Vietnam conflict as "a war that is finished as far as America is concerned," Ford's attention was now focused on the refugees. In May 1975 he visited the camps, and soon after refugees began leaving to start new lives across America. The government wanted to disperse the refugees to spread the cost among many states and communities. By Christmas of that year, all refugee camps had been closed, and the refugees were resettled in every state.
I am not aware of any other politicians, antiwar protesters, esteemed journalists or celebrities visiting Fort Chaffee, Ark., where my family was temporarily housed for two months. But Gerald Ford did.
April 1975 was indeed the cruelest month for us. But thanks to President Ford's leadership, we experienced America's kindness and generosity during our darkest days. We owe him our deepest gratitude in remembrance.
© 2006 Quang X. Pham
"This op-ed first appeared in The Washington Post."



Di Sản Tuyệt Vời Nhứt của Tổng Thống Ford

Quang X. Phạm

LTS: Phạm Xuân Quang, một phi công Thủy Quân Lục Chiến thời chiến tranh Vùng Vịnh và tác giả tập hồi ký “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” hiện là một doanh nhân ở Nam California. 
Bài xã luận “Ford’s Finest Legacy” của Phạm Xuân Quang trên báo Washington Post ngày 30 tháng Mười Hai, 2006 được MyOneViet chuyển dịch với sự đồng ý của tác giả.

“Đồng bào thân mến, ngày hôm nay nước Mỹ có thể hồi phục lại niềm kiêu hãnh từng có trước chiến tranh Việt Nam. Niềm kiêu hãnh đó không thể đạt được bằng cách lại tham gia trận chiến nay đã kết thúc … Những biến cố này, tuy bi thảm nhưng không phải là điềm báo trước ngày tận thế hay sự chấm dứt vai trò lãnh đạo của Mỹ trên trường thế giới.”
Tổng Thống Gerald R. Ford nhấn mạnh trong bài diễn văn đọc tại Tulane University, ngày 23 tháng Tư, 1975, vào giai đoạn cuối của trận chiến Việt Nam dài đăng đẳng. Đám đông sinh viên hét lên xung xướng và vỗ tay vang dội. Chính sách động viên quân đội chấm dứt và binh sĩ Mỹ cùng tù nhân chiến tranh đã trở về hai năm trước đó. Nước Mỹ phủi tay khỏi Việt Nam, cho dù hàng triệu sinh mạng vẫn đang lâm nguy.

Từ bên kia nửa vòng trái đất, gia đình tôi chìm đắm vào những diễn biến thảm thương của miền Nam Việt Nam. Với chúng tôi, đó là thời gian tệ hại nhứt. Dường như là ngày tận thế. Lúc đó tôi chỉ mới 10 tuổi.

Tổng Thống Dwight D. Eisenhower gởi cố vấn quân sự sang Việt Nam để giúp ngăn cộng sản và chận những con bài dominoe không đổ xập. John F. Kennedy điều động thêm hàng ngàn người nữa để đối phó với các cuộc nổi dạy ngày một gia tăng. Lyndon B. Johnson phá vỡ lời hứa trước đó rằng “sẽ không gởi thanh niên Mỹ đi xa hàng chục ngàn dặm để làm công việc mà chính người Châu Á phải tự lo liệu.” Richard M. Nixon kéo dài cuộc chiến thêm ba năm nữa cho dù có kế hoặch mật để kết thúc cuộc chiến dài nhứt của người Mỹ.
Cuối cùng, sau hai thập niên thi hành chính sách ngoại giao không thành công tại bán đảo nhỏ bé, Tổng Thống Gerald Ford phải đối phó với những hệ lụy: những cam kết trống rỗng với một nước đồng minh, những hứa hẹn không thể giữ và một “nền hòa bình trong danh dự” mà Quốc Hội của thế hệ Watergate không thể thi hành.

Nhiều năm sau, trong bức thư gởi nhóm binh lính Thủy Quân Lục Chiến có nhiệm vu di tản Sứ Quán Mỹ tại Sài Gòn, ông viết: “Rõ ràng tháng Tư 1975 là tháng ác nghiệt nhứt. Thời gian trôi qua không làm phai nhòa nỗi đau của những ngày tháng đó, những ngày thê lương nhứt trong sự nghiệp cầm quyền của tôi.”
Thế nhưng Tổng Thống Ford đã trở thành ân nhân của những người may mắn thoát khỏi Sài Gòn khi thành phố này rơi vào tay Bắc Việt. “Tôi cầu nguyện để không một vị tổng thống Mỹ nào sẽ phải đối đầu lần nữa với tình huống nghiêm trọng như vậy. Tôi vẫn thương tiếc những người mà chúng ta không thể cứu được,” ông Ford phát biểu tại buổi hội thảo công khai về hệ quả cuộc chiến Việt Nam 25 năm sau. Ông nói thêm rằng ông biết ơn nước Mỹ đã tái định cư 130,000 người tị nạn Việt (ít hơn 1% dân số Nam Việt Nam) và rằng nếu “ít hơn nữa sẽ chỉ làm tăng thêm nỗi nhục tinh thần vào sự tủi hổ.”

Gia đình tôi và người Việt may mắn bỗng chốc trở thành những con người chen chúc trong các trại tị nạn ở Hoa Kỳ. Bên ngoài trại, tình cảm với người Việt của nhân dân Mỹ không được tốt đẹp, cho dù vào thời gian đó không tác động trực tiếp vào chúng tôi. Với phần lớn người Mỹ, chương cuối của tập sách về Việt Nam đã kết thúc cho đến khi người tị nạn Việt đổ lên đất Mỹ với số lượng lớn chưa từng có. Chỉ có di dân Hung-Ga-Ry và Cuba mới có tầm vóc quy mô như vậy. Báo chí Mỹ mô tả đất nước Hoa Kỳ có những ý kiến khác biệt về việc phải giải quyết như thế nào vấn đề người tị nạn.

Bài viết trên báo New York Times tháng Năm 1975 của Thượng Nghị Sĩ Robert Byrd Dân Chủ-West VA bình luận rằng những “phụ nữ bán ba, đĩ điếm và tội phạm,” phải được phân loại. Thượng Nghị Sĩ Joe Biden (Dân Chủ-Delaware) buộc tội chính quyền Ford đã không thông báo đầy đủ cho Quốc Hội về số lượng người tị nạn,” – làm như ai đó biết hết mọi sự trong lúc di tản hỗn loạn. Ông George McGovern bày tỏ trên báo Newsweek “Tôi nghĩ người Việt sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn ở chính nước họ.”

Vào lúc tình hình thất nghiệp tăng gần hai con số. Có thể điều này phần nào gây nên mối ác cảm với di dân Việt. Trong cuốn “Tears Before The Rain: An Oral History of the Fall of South Vietnam,” của tác giả Larry Engelmann, Julia V. Taft, người đứng đầu cơ quan liên ngành đặc trách công tác tái định cư người tị nạn bày tỏ về tình cảm chống đối đó. “Tân Thống Đốc California Jerry Brown, rất ưu tư về việc tái định cư người tị nạn trong bang của ông. Ông Brown toan ngăn cả phi cơ chở người tị nạn đáp xuống sân bay quân sự Travis gần Sacramento… Bộ trưởng y tế và an sinh, Mario Obledo, cảm thấy rằng gia tăng một số lượng lớn người thiểu số tại California sẽ không được đón nhận nồng hậu. Và ông nói rằng Calfornia đã có đông đảo người Hispanic, Philippines, da đen và nhiều sắc dân khác rồi.”

Người tị nạn rất may mắn. Người hậu thuẫn nhiều nhứt cho người Việt, ngoài Julia Taft lại là Tổng Thống Mỹ. Mặc dù mô tả cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc, ông Ford giờ đây lại chuyển sự quan tâm vào người tị nạn. Tháng Năm 1975, ông viếng thăm các trại, và không lâu sau đó người tị nạn bắt đầu cuộc sống mới tại khắp nước Mỹ. Chính quyền muốn phân tán người tị nạn để cộng đồng và chính quyền các tiểu bang cùng chia xẻ gánh nặng di dân Việt. Vào Giáng Sinh cùng năm, tất cả các trại đều đóng cửa, và người tị nạn được đưa đi định cư tại khắp Hoa Kỳ.

Tôi không được biết về một chính trị gia nào, kẻ chống chiến tranh, các nhà báo uy tín hay nhân vật nổi tiếng đến thăm Fort Chaffee, ở Arkansas, nơi gia đình tôi tạm sống trong hai tháng. Nhưng Tổng Thống Ford có đến.
Nhứt định tháng Tư 1975 là tháng kinh hoàng đối với chúng tôi. Nhưng nhờ sự lãnh đạo của Tổng Thống Gerald Ford, chúng tôi đã biết đến tấm thịnh tình và lòng bao dung của nhân dân Mỹ trong những ngày tháng tối tăm nhứt. 

Chúng tôi hết lòng biết ơn ông.

Thursday, April 30, 2015

Ba Bức Ảnh, Một Cuộc Chiến













Đức Hà

Chiến tranh Việt Nam để lại nhiều bức ảnh độc đáo ghi nhận những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến từ mở đầu đến kết thúc. Hình ảnh một cấp chỉ huy cảnh sát Sài Gòn tử hình một tù binh phe đối nghịch ngay tại mặt trận ngày mồng Hai Tết Mậu Thân của Eddie Adams, một bé gái trần truồng hãi sợ chạy trong điên loạn của Nick Út của thời chiến tranh leo thang 1972, đến cảnh lũ lượt trốn chạy trên nóc một tòa nhà ngày 29 tháng Tư, 1975 đánh dấu sự xụp đổ không thể tránh của Sài Gòn 40 năm trước đây … giờ đây đã đi vào lịch sử. Nhưng hệ lụy của những bức ảnh đó vẫn tồn tại không phai mờ, với nhiều người Việt thì đó là cơn ác mộng, những dấu mốc kinh hoàng của đất nước. Ít nhất 255 ngàn người Việt trở thành thuyền nhân và đến được một quê hương mới, nhiều ngàn người khác bỏ thây ngoài biển khơi, trên đường bộ hay mất tích.
Hơn 1.8 triệu người Việt đang định cư tại Mỹ. Theo Wikipedia có khoảng 3 triệu người Việt định cư tại hải ngoại, phần lớn bỏ nước sau 1975.

Mậu Thân 1968 - Khi Eddie Adams chụp được ảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan nổ súng vào đầu một cán binh Cộng Sản bị bắt làm tù binh thì không phải chỉ một người chết mà đến hai người. Tác giả Adams viết trên tuần báo Time: “Viên tướng giết lính Cộng; Tôi giết viên tướng với chiếc máy hình …” điều mà sau này Adams thú nhận rằng ước gì ông không chụp tấm ảnh đó. Ông viết tiếp: “Ảnh thời sự là vũ khí có sức tàn sát mạnh mẽ nhất trên thế giới. Người xem tin vào nó; nhưng ảnh không nói lên hết sự thật, cho dù cả không bị cắt xén. Ảnh thời sự chỉ nói lên phân nửa sự thật … Điều mà bức ảnh không nói là ‘bạn sẽ xử trí ra sao nếu là tướng chỉ huy vào đúng thời điểm nóng bỏng đó, và lại vừa tóm bắt được điều được gọi là một kẻ ác, sau khi tay này đã giết hại một, hai hay ba người Mỹ?’ Qua phỏng vấn với hệ thống truyền thông độc lập NPR, ông Adams giải thích: “Ông ta (Tướng Loan) chiến đấu cho cuộc chiến của Mỹ, không phải của họ, mà của Mỹ, vậy mà tất cả những quy lỗi đều gán lên ông ta.” Điều chưa được nói trong bức hình là trước đó không lâu vài quân bạn dưới quyền ông Loan bị sát hại vào lúc đã có thỏa thuận hưu chiến giữa hai bên nhân dịp Tết. Sự phẫn nộ của một người chỉ huy ngoài mặt trận – mà Adams sau đó mới khám phá là một người yêu nước, một anh hùng, quyết tâm chiến đấu vì tổ quốc. Mãi về sau khi ông Loan đến định cư tại Mỹ và phải đối đầu với vô vàn khó khăn do bức ảnh gây ra thì chính nhiếp ảnh gia Adams đã xin tạ lỗi với người trong hình cùng gia đình do những tác hại đến danh dự không sao hàn gắn được. Khi ông Loan qua đời ở Virginia, Adams gởi hoa và thiệp chia buồn với dòng chữ “Tôi rất đau buồn, nước mắt đọng đầy trong mắt tôi.” Hơn thế nữa, bức ảnh của Adams còn làm cho phong trào phản chiến tăng thêm cường độ, và hai tháng sau Tổng Thống Johnson loan báo không ứng cử nhiệm kỳ hai. Có ai ngờ một bức ảnh rồi ra đã đưa phong trào phản chiến lan tràn khắp nước Mỹ, một tổng thống phải ngậm ngùi không ngồi thêm nhiệm kỳ hai để vài năm sau đó Việt Nam Cộng Hòa bị xóa xổ.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 - Ngày 08 tháng Sáu, 1972, nhiếp ảnh gia chiến trường Huỳnh Công Út được hãng AP phân công đi thu thập hình ảnh chiến sự trên Quốc Lộ 1 hướng về biên giới Kampuchia nơi đang có giao tranh tại khu vực gần Tây Ninh. Khi đến Trảng Bàng, xe chở ông Út bị tắc nghẽn bởi hàng đoàn xe của cả quân sự lẫn dân sự do địch quân đắp mô phía trước và vẫn còn kiểm soát một đoạn của QL1 trong khi các đơn vị của Sư Đoàn 25 đang càn quét giải tỏa các ngôi làng hai bên lộ. Ông Út gia nhập với toán quân bộ binh để làm nhiệm vụ. Đến khoảng 1 giờ trưa bộ binh gọi phi pháo yểm trợ. Hai chiếc Skyraider xà xuống tọa độ được chỉ điểm gần Thánh Thất Cao Đài và liên tục thả bom nổ, bom xăng napalm, kể cả bắn đại bác. Khói bay mịt mù, tia lửa bắn ra như sao băng, tiếng nổ vang động. Và theo lời tường thuật của Horst Fass và Marianne Fulton trong bài “The Bigger Picture,” không ai nghe tiếng được tiếng súng phòng không bắn trả. Nhưng khi phi cơ đã bay xa thì hàng chục dân làng, quần áo tả tơi, mặt mày hoảng sợ bỗng xuất hiện từ vùng bị dội bom và chạy xối xả về phía quân bạn, nơi nhóm các nhà báo đang chực sẵn. Trả lời phỏng vấn năm 1999, Nick Út kể: “Khi nhóm phóng viên chúng tôi tiến gần đến ngôi làng, chúng tôi thấy đám dân làng đầu tiên chạy ùa ra. Tôi thầm nghĩ ‘Ôi Trời đất’ khi bất ngờ thấy một phụ nữ với chân trái bị napalm đốt cháy tệ hại. Kế đó là một phụ nữ khác bồng bế đứa con - đã chết, rồi một bà nữa bế con nhỏ da cháy nám rớt ra từng mảnh. Khi tôi dương máy chụp những bức ảnh này tôi nghe tiếng khóc thét của một em bé và thấy bé gái vừa chạy vừa ném bỏ hết quần áo đang cháy trên người. Bé gái gào hét gọi nguời anh trai chạy bên trái. Trước khi máy bay bỏ bom, toán lính bộ binh đã kêu to gọi các em nhỏ chạy nhanh nhưng đã quá trễ.”

Ông Út kể tiếp: “Khi bé gái thấy tôi, bé nói ‘nóng quá, nóng quá’ và xin nước uống. Tôi lấy nước cho bé uống và nói thêm là sẽ tìm cách giúp bé. Tôi bồng bé lên và đưa về chiếc xe của tôi, rồi phóng nhanh hướng về bệnh viện Củ Chi, cách đó một giờ đồng hồ. Bệnh viện lại có quá nhiều thương binh, người sống người chết, họ chẳng màng đến bé gái. Tôi nói với họ “Tôi là một nhà báo, hãy làm ơn giúp bé gái này, tôi không muốn em chết.’ Thế là bé gái được chăm sóc ngay.”
Cô gái chín tuổi trong hình tên Phan Thị Kim Phúc. Sau 14 tháng nằm bệnh viện với 17 lần lên bàn giải phẫu, Kim Phúc trở về làng cũ ở Trảng Bàng. Ông Út, năm đó 21 tuổi, đã dùng hai máy ảnh để ghi nhận bức ảnh đoạt giải Pulitzer 1972 – một Leica và Nikon với ống kính dài. Nhưng bức ảnh gây chấn động thế giới đó đưa đến hai sự kiện. Nhằm mục đích tuyên truyền, chính quyền Hà Nội dùng lá bài Kim Phúc cho chiến dịch quảng bá phong trào chống chiến tranh. (Ghi chú: Chỉ bốn năm sau Việt Nam xua quân tiến chiếm Kampuchia.) Theo bài tự thuật “The Long Road To Forgiveness” Kim Phúc nói rằng cô bị gián đoạn học vấn để làm công cụ tuyên truyền cho nhà nước. Nhiều lần cô muốn tự vẫn vì cảm thấy mất thăng bằng trong cuộc sống cho đến khi nghiên cứu sách để tìm đường giải thoát tâm linh, cô đã đọc cuốn Thánh Kinh và sau đó cải đạo từ Cao Đài sang đạo Thiên Chúa. Năm 1986, Kim Phúc được xuất ngoại du học ngành dược và chữa trị vết phỏng ở Cuba. Đến 1992, Kim Phúc cùng chồng Bùi Huy Toàn đi hưởng tuần trăng mật ở Moskva, nước Nga; và khi máy bay đáp lấy xăng tại Newfoundland, Canada, bà và chồng đã trốn ở lại và xin tị nạn chính trị với chính quyền địa phương. Hiện gia đình Kim Phúc và hai con đang định cư tại Ontario, Canada. Nói về bức ảnh của Nick Út, Kim Phúc có lời nhắn với thế giới rằng “Xin đừng nhìn bé gái trong hình như sự than khóc vì sợ và đau đớn hãy xem đó như lời gào thét vì hòa bình.”

Tháng Tư, 1975 – Hôm đó là thứ Ba 29, tháng Tư, phóng viên ảnh Hugh Van Es, gốc Hòa Lan và làm việc cho hãng tin UPI ở Sài Gòn. Ông dùng máy ảnh Nikon, gắn ống kính 300 mm và chĩa về phía nóc nhà kế cận, nơi một chiếc trực thăng của Air America đang chuẩn bị di tản một nhóm hành khách - để rồi ra trở thành cuộc di tản quy mô nhất bằng máy bay trực thăng trong lịch sử. Đó là bức ảnh ghi dấu chương cuối của miền Nam Việt Nam. Một ngày sau đó cuộc chiến Việt Nam – còn được gọi là cuộc chiến “Chống Mỹ cứu nước” chấm dứt. Tuy được chụp ở nơi khác tại Sài Gòn, rất nhiều người lầm tưởng bức hình được chụp sân thượng sứ quán Mỹ trên đường Thống Nhất.
Điều thú vị là 30 năm sau, nhiếp ảnh gia Van Es đã trở lại Việt Nam để viếng thăm những nơi ông và đồng nghiệp từng công tác như đồi Hamburger Hill … Ông kể rằng khi viếng Nhà Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh, ông thấy bản sao của một bức hình do chính ông chụp ghi nhận cảnh binh lính đơn vị nhảy dù Mỹ 173rd Airborne đang tiến quân thì chú thích tại nơi triển lãm lại đề ngược là “đang tháo chạy.” Ông Van Es cho giới chức liên hệ xem bản gốc với yêu cầu sửa lời chú là “đang tiến quân”. Lẽ dĩ nhiên ông bị từ chối. Phát biểu về vấn đề này ông nói: “Tôi chụp những bức hình đó cho thế hệ mai sau, cho lịch sử, và tôi không cho phép họ xuyên tạc lịch sử nhằm mục tiêu tuyên truyền.” Ông nói thêm rằng “vết thương chiến tranh cần nhiều thời gian để hàn gắn. Vào lúc nào đó, tôi sẽ cố gắng lần nữa.”

1975 – 2015 Eddie Adams qua đời năm 2004, Hugh Van Es năm 2009, Huỳnh Công Út vẫn gắn bó với Associated Press. Hoa Kỳ bỏ cấm vận (1994) và tái lập bang giao với Việt Nam 1995. Năm 2001 hai bên ký thỏa ước mậu dịch song phương mang hai nước cựu thù xích lại gần nhau hơn cho dù 1,319 binh sĩ Mỹ vẫn bị xem là mất tích tại Việt Nam trên tổng số 1,731 trong vùng Đông Nam Á. Trong cùng lúc nhiều thành phố Mỹ - Việt đã kết nghĩa chị em: San Francisco/ TP.HCM, Newport Beach/Vũng Tàu Bà Rịa, Seattle/Hải Phòng, Pittsburgh/Đà Nẵng, New Haven, Honolulu/Huế, Madison/Bắc Giang và mới đây nhất là đề nghị kết nghĩa hai sông Mississippi/Mekong. Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều hồ hởi với chuyện kết nghĩa; tại Fayetteville, North Carolina nơi có trung tâm huấn luyện Fort Bragg, nhiều cựu quân nhân tại đây không hài lòng với việc thành phố của họ kết nghĩa với Sóc Trăng - nhất là hội cựu binh sĩ Sư Đoàn 82 Nhảy Dù. Một số quân nhân xuất thân từ Fort Bragg từng đóng quân tại phi trường Sóc Trăng thời chiến tranh. 

Còn Sài Gòn sau bước ngoặt lịch sử 30 tháng Tư - như mọi người đều biết, được thay căn cước và sổ gia đình bằng chứng minh nhân dân và hộ khẩu, triệt để xóa bỏ tầng lớp tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp tư doanh và tập thể hoá nông nghiệp để tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, nhưng rồi lại được sửa sai để chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với thời gian Sài Gòn vươn cao hơn, rộng hơn, đông hơn, ùn tắc hơn và cũng … ngập nước nhiều hơn. Giai cấp tư sản (đỏ) ngày càng nhiều và giàu gấp bội giới tư sản mại bản trước kia. Trong khi đó việc hòa hợp hòa giải vẫn (mãi mãi) là ảo tưởng. Một bên rập khuôn nhắc đi nhắc lại và kêu gọi tất cả người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt quá khứ, dân tộc, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế và cả những nhận thức, ý kiến còn khác nhau cùng đoàn kết, chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc vv … ­ dù biết rằng chẳng kết quả nào, chẳng ai tin, còn bên kia chỉ đợi dịp là phất cờ vàng xuống đường biểu tình chống đối. 


Nhiều cuốn sách vạch trần sự thật đằng sau bên thắng cuộc do phía bên kia viết hay hồi ký do phía bên này biên soạn đã giúp độc giả thêm hiểu biết về cuộc chiến (Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Bí Mật Vietnam Wikileaks, Những Người Thua Trận, Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Khi Đồng Minh Tháo Chạy ...) Và mới đây nhất hai bộ phim Last Days In Vietnam và Ride The Thunder được trình chiếu cho thấy một góc nhìn khác với Full Metal Jacket, The Deer Hunter, Apocalypse Now ...

Tổng kết thương vong từ cuộc chiến Vietnam: 58,220 lính Mỹ; từ 1,5 đến 3,6 triệu người Việt kể cả thường dân từ hai phía. Sau 1975 ước tính có khoảng 200 ngàn người bị tập trung cải tạo, hầu hết đều được đi định cư tại Mỹ và là một phần của 4,5 triệu người Việt sinh sống ở ngoài Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống của miền Nam (1965-1975) để lại một câu nói giá trị ngàn đời "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm." Trong khi đó lãnh tụ Lê Duẩn của miền Bắc (1976-1986) có câu phát biểu giải thích toàn bộ về công cuộc giải phóng miền Nam“Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô.”

Sau 40 năm thống nhất đất nước, Vietnam được xếp hạng ba (sau Trung Quốc, Nga) về mức độ phá thai nhưng đứng đầu bảng về tỷ lệ phá thai 83.3% (cứ 1,000 phụ nữ thì 83.3 người loại bỏ hay lấy phôi hay thai nhi khỏi tử cung trước khi đến hạn sinh nở.) Theo Google Trends, Vietnam xếp hạng bẩy toàn thế giới về truy cập sex trên mạng, hạng ba về sex đồng tính trong đó Saigon và Hanoi là hai thành phố đứng đầu cả nước về lượng truy cập sex đồng tính. Và thống kê của Liên Hiệp Quốc cho thấy tổng sản phẩm quốc nội - GDP của VN năm 2013 là 1,865 (hạng 141 toàn thế giới.)

Và người Việt hải ngoại cùng Việt kiều yêu nước vẫn về nước, gửi tiền về quê nhà hà rầm (10 - 12 tỉ đô-la theo Ủy Ban về Nguời Việt ở Nước Ngoài). Chỉ có điều những từ xấu xa như “chế độ Mỹ ngụy, ngụy quân ngụy quyền, ôm chân đế quốc, tay sai tư bản Mỹ …” được thay bằng “không có người Việt Nam chiến thắng hay người Việt Nam thua. Đấy là chiến thắng chung của cả dân tộc, khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời, một phần máu thịt của Việt Nam …" và "Nghị Quyết 36.”

Xem Last Days in Vietnam