Tuesday, December 21, 2010

Rủi Ro Khi Lái Xe Mà Nói Điện Thoại

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
http://www.bsnguyenyduc.com


Ngày thứ Ba, 12/1/2010, bà Janet Froescher, Chủ tịch tổ chức National Safety Council tại Hoa Kỳ phổ biến một báo cáo cho biết mỗi năm ít nhất có 1.6 triệu trường hợp đụng xe ( khoảng 28% trong tổng số các tại nạn xe cộ) là do điện đàm + lái xe (1.4 triệu vụ) và nhắn tin texting (200.000 vụ). Bà kết luận là các tai nạn này đều có thể tránh được và nếu không làm gì để giải quyết ngay từ bây giờ là điều rất đáng trách.
Tại Hoa kỳ, hiện nay có khoảng 100 triệu điện thoại di động, thì 85% chủ nhân ông đều sử dụng khi lái xe. Họ đã tận dụng thời gian ngồi trên xe rồi điện đàm hoặc dùng vi tính để giải quyết công việc. Thực là tiện lợi, nhưng mặt trái của sự việc cũng có nhiều ảnh hưởng không tốt tới khả năng điều khiển tay lái, cũng như quan sát sự vật xung quanh.
Theo tập san y học New England Journal of Medicine số tháng 2 năm 1997 thì rủi ro tai nạn do lái xe + nói cell phone tương đương lái xe + say rượu với mức độ cồn trong máu ở giới hạn hợp pháp (blood alcohol level at the legal limit).
Nghiên cứu tại Trung tâm Phân Tích Rủi Ro, Đại học Harvard (Harvard Center of Risk Analysis) cho hay, hàng năm tại Hoa Kỳ, lái xe + điện đàm gây ra 636.000 vụ đụng xe, 333.000 thương tích với 12.000 thương tích nặng, 2600 tử vong và tổn phí chung lên tới 43 tỷ mỹ kim.
Các khoa học gia tại Ðại học Johns Hopkins, Baltimore Hoa Kỳ đã nghiên cứu hoạt động của não bộ khi làm hai việc một lúc. Kết quả cho thấy khi não chú tâm vào sự nhìn thì khả năng nghe hơi giảm đi một chút. Do đó họ khuyên là không nên vừa nói vừa nhìn đường trong khi lái xe. 
Tháng 7 năm 2009,Viện Kỹ Thuật Giao Thông Virginia ( Virginia Tech Transportation Institute) công bố kết quả nghiên cứu cho hay tai nạn khi lái xe + bấm nhắn tin (texting) tăng 23% so với không nhắn tin.
Trong khi đó, Pew Internet & American Life Project thực hiện thăm dò vào mùa Hè năm 2009 cho biết có khoảng 26% thiếu niên tuổi 16-17 lái xe + bấm nhắn tin, 43% lái xe + điện đàm.
Kết quả nghiên cứu do Donald Redelmeier và Robert Tibshirani tại Đại học Toronto, Canada, cho hay điện đàm + lái xe sẽ gây ra tai nạn nhiều hơn khi không điện đàm từ 4 tới 5 lần, và nói với tay không cầm điện thoại hand-free cell phone có vẻ cũng không an toàn hơn. Theo nghiên cứu này thì tai nạn xảy ra là do giảm sự chú ý khi vừa lái vừa nói, hơn là sự khéo tay, tài nghệ lái. Nghiên cứu cũng chi tiết thêm rằng:

-Rủi ro tai nạn 5 lần nhiều hơn bình thường khi tài xế nói trong 1 hoặc 5 phút trước khi tai nạn xảy ra.
-Tỷ lệ đụng xe 4 lần cao hơn bình thường khi điện đàm bắt đầu 15 phút trước khi có tai nạn.
-Rủi ro tai nạn thường xảy ra 15 phút sau khi tài xế ngưng nói
-Tài xế trẻ hoặc già đều có tỷ lệ rủi ro như nhau khi lái xe lại điện đàm.

Thời gian phản ứng (reaction time) của tài xế cũng thay đổi: Lái xe + điện đàm, thời gian này chậm hơn bình thường tới 50%, khi say rượu chỉ có 30%.
Những rủi ro khi điện đàm + lái xe:

-Gây bối rối, lãng trí người đang lái xe khiến cho họ không tập trung nhìn làn đường trong khi nói và quay số điện thoại;
-Giảm khả năng điều khiển, kiểm soát động tác lái xe. Tài xế say mê với điện đàm mà lơ đãng việc điều khiển tay lái, đưa tới rủi ro cho người trên xe và khách bộ hành.
-Giảm sự chú ý của tài xế với mọi sự việc đang diễn ra trên đường phố ở xung quanh.
-Không lái đúng trong lằn đường quy định
-Không giữ được tốc độ cố định thích hợp
-Không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước
-Phản ứng với các biến cố thường chậm lại
-Giảm khả năng nhận xét về an toàn xa lộ, dấu hiệu chỉ đường.

Thường thường, khi lái với tốc độ 70 mile/giờ (112 km) cần một khoảng cách là 46 feet (14 thước) để tài xế có đủ thì giờ bắt đầu phản ứng với chuyện xảy ra trước mắt. Nếu điện đàm, dù là lái với 2 tay, tài xế cần khoảng thêm khoảng đường 26 feet ( gần 8 thước) để phản ứng, so với không điện đàm.
Ngoài ra đang lái xe mà nói quá nhiều, ăn uống luôn miệng luôn tay, trang điểm má phấn môi son là những giây phút lơ đãng rất ư là tai hại.
Ðã có tới 40 quốc gia trên thế giới ban hành luật cấm dùng điện thoại di động khi lái xe, như Pháp, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản, Nam Hàn, Thụy sĩ, Đức, Hồng Kông, Tân Gia Ba, Gia Nã Đại...
Riêng tại Hoa Kỳ, hiện nay có 7 tiểu bang cấm cầm cell phone để nói chuyện trong khi lái xe. Đó là California, Connecticut, New Jersey, New York, Oregon, Utah, tiểu bang Washington cộng thêm District of Columbia. Trong khi đó đã có 18 tiểu bang + District of Columbia cấm nhắn tin + lái xe.
Tháng 10 năm 2009, Tổng Thống Hoa Kỳ Barrack Obama đã ký sắc lệnh cấm nhân viên dân chính, quân sự liên bang sử dụng điện thoại di động khi lái xe thi hành công vụ, với xe, điện thoại công hoăc cá nhân.

Lái xe mà có điện thoại di động để khi khẩn cấp có phương tiện thông tin, cấp cứu, cũng là điều thuận lợi. Tuy nhiên, đang điều khiển xe mà điện đàm tâm sự ba hoa thì tai nạn cũng dễ dàng xẩy ra với tử vong cho người lái và người khác.
Đã có nhiều vụ kiện do người vừa lái xe vừa nói điện thoại rồi gây ra tai nạn và sự bồi thường lên rất cao. Tháng 12 năm 2007, một công ty tư nhân đã phải điều đình bồi thường những 5.2 triệu mỹ kim cho một phụ nữ tại Georgia, vì bà bị thương tích đụng xe do tài xế của công ty vừa điện đàm + lái xe.
Bài học căn bản về lái xe là:
-Cần luôn luôn đề cao cảnh giác, thận trọng với tác phong lịch sự.
-Đầu hướng về phía trước, mắt vừa nhìn đường vừa ngó kính chiếu hậu và quan sát người lái chung quanh.
-Tôn trọng luật đi đường, giới hạn tốc độ và mang nịt an toàn.
Nếu lại dùng cell phone thì cũng tốt thôi, vì phương tiện này có nhiều ích lợi thực tiễn: giúp ta liên lạc với nhau, giải quyết vấn đề cấp bách và mang lại cấp cứu cho ta cho người khi hoạn nạn.
Chủ nhân xe vận tải hành khách cũng như hàng hóa đều quan tâm tới việc tài xế vừa lái vừa điện đàm: họ có thể gây ra tai nạn và chủ xe cũng có phần trách nhiệm dân sự vì đã không đặt quy luật dùng điện thoại cho tài xế. Phía thùng xe sau những xe này đều có hang chữ "Tôi lái xe đàng hoàng không?" với số điện thoại của công ty để người khác có thể kêu, báo cáo hành vi tài xế.
Do đó, khi phải dùng điện thoại khi lái xe, cũng nên để ý mấy điều sau đây:

  1. Điện thoại bây giờ có nhiều nút, nhiều cách dùng phức tạp nhưng nếu làm quen được với chúng thì lại rất có lợi. Chẳng hạn nút kêu khẩn cấp, nút kêu lại tự động, nút số điện thoại thường kêu... mà khi cần, chỉ việc nhấn nút là nói chuyện được.
  2. Sắm thêm trang bị phụ để khỏi phải dùng tay cầm điện thoại áp vào tai, dành hai tay cho bánh lái. Hiện nay có nhiều trang bị phụ như giá cài điện thoại vào xe, dây điện thoại gắn vào tai, ống nghe không dây...Vừa an toàn hơn mà vừa tránh được rủi ro gây ra do phóng xạ từ điện thoại.
  3. Ngay khi lên xe là để điện thoại gần chỗ mình ngồi, dễ lấy, không phải quay mình ra sau, đảo mắt tìm kiếm.
  4. Đang nói chuyện mà thấy có bất an lưu thông như tai nạn trước mặt, mưa to chợt đổ xuống, nhiều xe cộ qua lại... thì xin lỗi đối tượng rồi ngưng nói, chú tâm vào đường xá, lưu thông.
  5. Đang lái xe mà cần khẩn cấp dùng điện thoại thì táp vào lề đường hoặc nơi an toàn, khóa cửa xe rồi quay số.
  6. Giới hạn quay số điện thoại khi đang lái. Quay số khi xe ngừng nơi đèn đỏ hoặc bảng stop. Nếu cần lắm thì quay một nửa các con số, nhìn đường rồi quay tiếp.
  7. Không ghi chép, tìm số điện thoại, đọc danh sách việc cần làm trong khi lái xe.
  8. Tránh nói chuyện gây nhiều xúc động mạnh trong lúc vừa lái vừa nói vì ta rất dễ bị chia trí, gây ra tai nạn. Tránh hào hứng, ba hoa tán hươu tán vượn qua điện thoại khi đang lái xe. Để gặp nhau, tha hồ mà phát ngôn.
  9. Lái xe trên lằn đường bên phải trong khi dùng điện thoại, như vậy chỉ cần để ý tới giao thông ở phía trái thôi; Dùng di động khi gặp trường hợp khẩn cấp: đây là phương tiện rất hữu ích để bảo vệ mình và gia đình khi có rủi ro xẩy ra. Ta có thể kêu cấp cứu với cơ sở y tế, cảnh sát giao thông...
  10. Dùng di động để giúp đỡ người khác khi họ gặp tai nạn, khó khăn.

Kết luận
Mark Edwards, Giám đốc An Toàn Giao Thông của công ty Bảo hiểm Xe hơi Hoa Kỳ nhắc nhở "Các nghiên cứu cho hay khoảng từ 20-50% của tổng số các vụ đụng xe tại Hoa Kỳ đều có nguyên nhân là sự không chú tâm của người lái".
Ngày nay, cell phone đã trở thành một phần của nếp sống con người. Nhưng dùng chúng một cách an toàn và khôn ngoan là một thói quen tốt mà mọi người nên có.
Phải chi mà ai ai, và ngay bản thân mình, cũng cẩn tắc vô áy náy như vậy thì đỡ việc cho mấy chủ nhân nhà hòm biết mấy!

Monday, December 13, 2010

Hỏi – Đáp: Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

Hiệp hội Ung Thư Hoa Kỳ vừa đưa ra lời cảnh báo về các cuộc thí nghiệm y khoa truy tìm bệnh ung thư tuyến tiền liệt hoặc nhiếp hộ tuyến nơi phái nam và nói rằng làm thí nghiệm đều đặn chưa hẳn là tốt và có thể gây hại nhiều hơn lợi. Hiệp hội không khuyến cáo phái nam phải làm thử nghiệm này một cách nguyên tắc từ thập niên 1990, và điều này không thay đổi. Nhưng hội kêu gọi các bác sĩ hãy trao đổi thẳng thắn với bệnh nhân về nguy cơ và giới hạn của thí nghiệm truy tìm chất antigen PSA - prostate specific antigen.
Hai cuộc nghiên cứu trong năm qua gợi ý rằng làm thí nghiệm PSA không nhất thiết cứu sống bệnh nhân, và nếu có lợi thì cũng phải trả giá khá đắt. Thí nghiệm y khoa PSA thường phát hiện những bứu nhỏ phát triển quá chậm để có thể trở thành ác tính gây tử vong. PSA có thể cho những kết quả dương tính sai để sau đó đưa đến làm sinh thiết (biopsie) không cần thiết. Vì kết quả không chính xác nên có thể đưa đến cách chữa trị khiến bệnh nhân trở nên vô sinh và không kiểm soát được việc tiểu hay đại tiện.
Sau đây là những câu hỏi – đáp về vấn đề này chuyển dịch từ trang nhà của American Cancer Society trụ sở tại Atlanta, Georgia.

H: Khuyến cáo hiện nay như thế nào?
Đ: Cơ bản không có gì thay đổi: làm thí nghiệm PSA theo nguyên tắc không cần thiết cho phần lớn phái nam. Trước khi làm PSA bác sĩ nên trao đổi về những bất lợi và thuận lợi với bệnh nhân
H: Khi nào nên thảo luận với bác sĩ?
Đ: Bình thường khi tới tuổi 50; 45 cho người có nguy cơ cao và người có thân nhân bị ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) trước 65 tuổi; và 40 cho người có nhiều thân nhân bị UTTTL trước 65.
H: Các phương pháp thanh lọc UTTTL từ trước có gì sai?
Đ: Thường là thử máu và khám nghiệm cơ thể. Cả hai đều không chính xác và không có chứng minh khẳng định việc phát hiện sớm sẽ sống thọ. Kết quả thí nghiệm có thể đưa đến việc chẩn bệnh quá chi tiết và từ đó ấn định cách chữa trị không cần thiết những bứu nhỏ có thể sẽ chẳng gây nguy hại nào.
H: Nếu bác sĩ không có thời gian thảo luận thì sao?
Đ: Hội ung thư gợi ý các tài liệu trợ giúp như cẩm nang, video, trang web … trong đó có giải thích về điểm lợi và bất lợi khi làm thí nghiệm y khoa truy tìm UTTTL và giúp bệnh nhân chọn lựa và chấp nhận những phản ứng phụ.
H: Nếu chấp nhận hậu quả và vẫn muốn làm thí nghiệm PSA thì sao?
Đ: Thí nghiệm phải bao gồm thử PSA, còn khám nhiệm kỷ thuật số đường hậu môn không bắt buộc.
H: Khó hiểu quả. Nếu không quyết định được thì sao?
Đ: Có thể để bác sĩ quyết định.

Xem chi tiết về thí nghiệm PSA tại đây: http://www.healthdialog.com/Main/default

Sunday, November 28, 2010

Từ Lò Đường đến Bánh Mì Lee’s

Đức Hà
Việt Mercury

Bài phóng sự "Bánh Mì Thịt Làm Nên Sự Nghiệp" về hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh Lee’s Sandwiches được đăng trên tuần báo Việt Mercury ngày 4 tháng Bảy, 2003 là bài viết duy nhất trong đó lần đầu tiên ông Lê Văn Bá nhận trả lời phỏng vấn của một cơ quan truyền thông Việt ngữ. Được nhật báo Mercury News so sánh như một Raymond Albert “Ray” Kroc – trùm hệ thống McDonalds, của người Việt, ông Bá và các người con đã khai trương hệ thống nhà hàng Lee’s Sandwiches với hơn 30 địa điểm khắp California và nhiều cửa tiệm ở bốn bang khác. Tin cho biết ông Bá qua đời hôm 23 vừa qua tại San José, thọ 79 tuổi.



Người Việt thích ăn bánh mì thịt. Sáng, trưa, chiều, tối, khuya, nửa đêm về sáng, dù buồn hay vui, dù nghèo hay khá giả, dù share phòng hay nhà trên đồi có view, dù ăn thất nghiệp hay lãnh lương sáu số … lúc nào cũng có thể ăn ổ bánh mì kẹp thịt. Mà ăn ngon lành vì nóng dòn, rẻ tiền và có đầy đủ vị chua cay mặn ngọt bùi. Vì vậy khi di dân sang Mỹ, bánh mì thịt - hương vị bánh mì bưu điện Sài Gòn trước 1975, cũng được mang theo và có mặt tại bất cứ nơi nào có người Việt định cư.
San Jose có hàng chục cửa hàng bán bánh mì thịt nguội. Từ một tiệm, một chủ, hệ thống hai, ba tiệm một chủ, và quy mô đến hàng chục tiệm cũng cùng một chủ đã trở thành những địa điểm cung cấp món thức ăn nhanh, gọn, hạp khẩu vị Việt với giá cả nhẹ nhàng trong mọi hoàn cảnh kinh tế.
Tuy nhiên nếu có tiệm chủ yếu vẫn nhắm vào khách hàng người Việt thì hệ thống Lee’s Sandwiches với bảy tiệm đang hoạt động và năm tiệm nữa sẽ khai trương từ nay đến cuối năm thì khách hàng cần phải tranh thủ là những sắc dân khác không phải người Việt.
“Muốn phát triển rộng thì cần phải tiếp cận với khách hàng giòng chính, tạo một hình ảnh tốt cho người tiêu thụ thuộc các sắc dân khác và một khẩu vị thích hợp,” ông Lê Văn Hướng, 46 tuổi, phụ trách kế hoạch của công ty Lee’s cho biết.

Hình ảnh mới về một tiệm bánh mì của người Việt được khởi sự tại Bolsa, khu phố chính của người Việt tại miền Nam California và đang được nhân rộng để có thể có mặt khắp nước Mỹ trong thời gian sắp tới.
“Hướng đi trong tương lai của Lee’s là có mặt khắp nơi, như McDonald’s, hay Subway của Mỹ để mang khẩu vị đặc biệt của bánh mì thịt Việt Nam phục vụ mọi sắc dân.”
Thành quả ngày hôm nay của Lee’s là kết quả của những nỗ lực, những cần cù và lao động không mệt mọi từ mọi người trong gia đình họ Lê. Công khó được đền đáp khi Lee’s trở thành hệ thống cửa hàng bánh mì thịt lớn nhứt của người Việt ở California với doanh thu hàng năm trên 10 triệu đô la.

Lò Đường Vĩnh Phước

Vượt biển đến Mỹ năm 1979 và để lại Việt Nam một gia tài khổng lồ, gia đình họ Lê ở Long Xuyên đã phát triển ngành xe lunch và tiệm bánh mì thịt từ con số không thành một hệ thống quy mô khắp California với tài sản ước lượng khoảng 50 triệu đô la.
“Nếu so với cơ ngơi của ông già hồi còn ở Việt Nam, thì thành quả hiện nay của chín anh em trong gia đình cộng chung cũng chưa bằng,” ông Lê Văn Hướng, người con thứ hai của ông Lê Văn Bá cho biết.
Với người Miền Tây, vùng Long Xuyên Thốt Nốt lò đường của ông Bá được xem là lớn nhứt thời trước năm 1975.
“Mới 16 tuổi tôi đã đi buôn chuyến từ Long Xuyên lên Sài Gòn, rồi chuyển sang nghề nấu rượu, thầu dịch vụ bến đò cho đến năm 1961 thì khai trương lò đường,” ông Bá, năm nay 71 tuổi kể lại từ văn phòng mới của tổng công ty Lee’s đặt tại Saigon Business Center khánh thành hồi tháng trước.
Ông nói rằng nghề dạy nghề và đi nhiều nơi học hỏi đã giúp ông trở thành nhà kinh doanh thành công ở Miền Tây với hệ thống lò đường, nhà máy nước đá và cả một đội xe tải riêng. Với hàng trăm tấn đường thẻ sản xuất lúc bấy giờ, lò đường Vĩnh Phước cung cấp đến 30% nhu cầu đường cho Miền Tây. Tuy nhiên sau năm 1975 tất cả đều trở thành tài sản nhà nước và đến năm 1979 thì hoàn toàn tê liệt.
“Những người tiếp quản hầu như chẳng biết gì về nghề làm đường mặc dù được chỉ vẽ đầy đủ.”
Ông Bá kể lại rằng với chức vụ phó giám đốc, ông được mời đi tham quan Hà Nội và những điều trông thấy tận mắt đã khiến ông quyết định phải … ra đi.
“Chuyến đi thăm Hà Nội năm 1976 làm tôi hãi sợ và có quyết định ngay là phải đưa hết cả gia đình ra đi càng sớm càng tốt.”

Xe Lunch Lee Bros

Không phải tự nhiên mà tháng Năm vừa qua, cơ quan quản trị ngành tiểu thương Hoa Kỳ SBA văn phòng San Francisco đã trao tặng giải thưởng SBA 2003 Entrepreneurial Success Winners cho Lee Brothers Foodservices và Lee’s Sandwiches. Bằng tuyên dương của SBA nói rằng hệ thống Lee’s đã có những đóng góp lớn lao cho sự phồn thịnh của California và mang lại công ăn việc làm cho hàng ngàn người. Và cũng như lò đường bên Việt Nam, cơ sở mới của hệ thống Lee’s cũng bắt đầu từ không thành có.
Khởi đầu sự nghiệp tại Hoa Kỳ với chân phụ việc trên một chiếc xe lunch cung cấp thực phẩm cho trường học năm 1981, ông Lê Văn Chiêu, người con trưởng trong gia đình đã phát triển thành Lee Brothers Foodservice, một hệ thống cung cấp thực phẩm quy mô với 500 xe và hơn 1,000 nhân viên hoạt động khắp Vùng Vịnh.
“Những ngày đầu làm xe lunch của anh em chúng tôi cũng hệt như những ngày đầu của thời ba chúng tôi đi buôn bên nhà. Chủ yếu là sức lao động,” ông Chiêu, 47 tuổi nhớ lại thời kỳ đầu khi ông nấu và vợ ông, bà Lê Quách Ngọc Yến lái xe từ hãng xưởng này qua công ty khác ở San Jose mang thức ăn trưa đến cho mọi người.
Không đầy hai năm sau, công ty có hơn 10 chiếc để sau cùng lên đến trên 500 chiếc hoạt động hoàn toàn độc lập.
“Chúng tôi giúp anh em tự làm chủ chiếc xe của mình, công ty chỉ cung cấp hàng và bến đậu ban đêm.”
Bước đi của Lee Brothers Foodservices đã được đồng hương người Việt nhanh chóng noi theo để hiện nay nắm trọn ngành xe lunch tại vùng Bắc California với sáu công ty của người Việt.
Cùng lúc với xe lunch, công ty Lee’s cũng đầu tư vào ngành địa ốc và tham gia rất nhiều vào các sinh hoạt cộng đồng như đóng góp cho các chương trình cứu trợ lũ lụt, các hoạt động bảo tồn văn hóa kể cả các buổi gây quỹ cho các chính trị gia Mỹ và Việt.

Bánh Mì Thịt

Trong khi người con trưởng bành trướng hệ thống xe lunch thì ông Bá và vợ bà Nguyễn Thị Hạnh dốc toàn lực vào việc gầy dựng tiệm bánh mì trên đường King. Ông Bá kể lại:
“Đầu tiên chúng tôi làm nhà hàng trên đường Mười Ba, rồi lấy hàng của ông Ba Lẹ bán trên xe lunch, sau cùng thì chúng tôi mở tiệm bánh mì đầu tiên trên đường King.”
Thành công của tiệm Lee’s đã đưa đến sự xuất hiện một loạt các tiệm bánh mì thịt khác như Hương Lan, Thanh Hương, Đa Kao ... Trong khi đó tại Hawaii cũng xuất hiện một loạt các cửa tiệm bánh mì thuộc hệ thống Ba Lẹ. Ngoài bánh mì, Ba Lẹ Hawaii còn mở rộng dịch vụ và cung cấp thực phẩm cho các khách sạn và hãng hàng không.
Tuy cửa hàng bánh mì trên đường King có nhiều khách hàng nhưng để đi vào giòng chính thu hút nhiều khách mới, Lee’s Sandwiches cần có bộ mặt mới, hiện đại hơn. Đó là ý kiến của một thành viên trẻ thuộc thế hệ thứ ba trong gia đình họ Lê.
“Cháu Minh muốn thí nghiệm ý định của mình tại ngay Bolsa, nơi đón nhận người Việt và du khách từ khắp nơi trên thế giới đến thăm Little Saigon,” ông Chiêu nhắc lại một kỷ niệm cũ đau lòng khi cửa hàng chưa khai trương thì người con trai trưởng qua đời trong một tai nạn lưu thông.
Thành công của tiệm Lee’s đầu tiên trên phố Bolsa, nơi có sức cạnh tranh của hàng chục tiệm bánh mì khác, đã làm người Việt hết sức ngạc nhiên. Lần đầu tiên người đi mua bánh mì phải thứ tự xếp hàng, đặt hàng lấy số trong lúc cả một hệ thống máy điện toán hiện đại được đưa vào sử dụng. Và cũng lần đầu tiên người ta thấy có tiệm bánh mì mở cửa 24/24 với tên gọi “Always Open.”

Tuy nhiên phương hướng phát triển mới, mở rộng ra khỏi phạm vi dòng họ không được tất cả các thành phần trong gia đình đồng ý.
“Bà già thì không bao giờ muốn mở thêm tiệm,” ông Chiêu giải thích.
Thật ra, theo lời ông Hướng, trong gia đình đang có hai khuynh hướng khác nhau: một là tiếp tục hoạt động như hiện nay và giới hạn trong phạm vi bà con họ hàng, và hai là mở rộng đón nhận đầu tư kể cả nhân lực từ bên ngoài.
Chuyên gia tham vấn trong lãnh vực kinh doanh gia đình Quentin Fleming ở Los Angeles nói về những khuynh hướng dị biệt trong vấn đề mở rộng cơ sở làm ăn.
“Khi tôi làm tham vấn cho các doanh nghiệp người di dân gốc Á, thì điều rất hay xảy ra là họ muốn dấu bớt và không nói hết về ngành nghề của mình. Nhưng tại Mỹ này, một khi đã phát triển lớn thì phải có sự tham gia của người và vốn từ bên ngoài.”
Con đường làm ăn quy mô này đã được hệ thống Phở Hòa đi trước từ năm 1983 và phát triển thành 91 cửa tiệm dưới dạng franchise tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới.
Ông Nguyễn Bính, 48 tuổi một trong những người sáng lập hệ thống Phở Hòa có trụ sở chính tại Sacramento nói rằng người Việt có thói quen dấu nghề:
“Muốn bành trướng, gia tăng doanh thu thì phải mở rộng ra bên ngoài chứ không như suy nghĩ của phần đông người Việt là khi chia sẻ kinh nghiệm với người khác sẽ làm giảm giá trị ngành nghề của mình.”
Ông Bính nêu thí dụ về công thức nhồi bột lăn gà chiên của hệ thống KFC chẳng hạn vẫn là những điều được giữ kín.
“Làm franchise đòi hỏi phải nghiên cứu thị trường và vốn lớn ban đầu cho nên đó cũng là điều gây trở ngại cho các doanh nghiệp nhỏ của người gốc Việt,” ông Bính nhận xét.

Lên phát biểu tại buổi lễ nhận giải thưởng của SBA hồi tháng Năm, bà Lê Quách Ngọc Yến cho hay công ty Lee’s Sandwiches đang có kế hoạch mở rộng cơ sở làm ăn sang các tiểu bang khác dưới hình thức cho thuê bảng hiệu - franchise.
“Chúng tôi đã nhận được hơn 200 đơn từ nhiều tiểu bang muốn hợp tác làm ăn,” ông Hướng nói với Việt Mercury.
Rõ ràng là bán bánh mì thịt có vẻ là nghề “ngon cơm.”
Trong cuộc phỏng vấn trước đây, ông Tô Văn Lai của trung tâm băng nhạc Thúy Nga Paris có đưa ý kiến về những nhiêu khê khi kinh doanh ngành văn hóa văn nghệ:
“Cứ bán bánh mì như Lee’s Sandwiches, vậy mà khỏe.”

Thursday, October 28, 2010

Buddha in the West: Dalai Lama as Super Star

Andrew Lam

Americans may still debate the merits of Islam and argue over the building of an Islamic Center near Ground Zero, but the other branch of spirituality, Buddhism, is apparently more than welcome.
For a few days last week the Dalai Lama, who by far is the most famous Buddhist monk in the world, is celebrated at Emory University. People paid to come hear him. According to Atlantic Month, “seated above a bank of chrysanthemums, the Dalai Lama seemed one part royalty, one part rock star.”
In the last half of the 20th Century, America cunningly exported itself overseas, marketing its images, ideologies, products and religions with ingenuity and zeal, but what it has not been able to fully assess or prepare for are the effects in reverse. For if Americanization is a large part of globalization, the Easternization of the West, too, is the other side of the phenomenon.
I take it as some cosmic law of exchange that if Disneyland pops up in Hong Kong and Tokyo, Buddhist temples can sprout up in Los Angeles, home of the magic kingdom. Indeed, it comes as no surprise to many Californians that scholars have agreed that the most complex Buddhist city in the world is nowhere in Asia but Los Angeles itself, where there are more than 300 Buddhist temples and centers, representing nearly all of Buddhist practices around the world.
Over the past 25 years, Buddhism has become the third most popular religion in America behind Christianity and Judaism, according to a 2008 report from the Pew Forum on Religion and Public Life. Evidence of Buddhism spreading deep roots in America is abundant.
A few months ago CNN reported that, “programs and workshops educating inmates about meditation and yoga are sprouting up across the country.” There are more than 75 organizations working with some 2,500 people, most of them prisoners, and they inspired a documentary called “The Dhamma Brothers.”
Last December, Thomas Dyer, a former Marine and one-time Southern Baptist pastor, will head to Afghanistan as the first Buddhist chaplain in the history of the U.S. Army.
Yet, despite Buddhism’s message of inner peace and compassion, it, in its own way, is a very radical spiritual practice for its refutation of the existence of a creator. In essence, the serious practitioner aims to extinguish the self by defeating his own ego and, thereby, seeing beyond the illusion spun by the ignorant mind.
The ultimate Buddhist experience entails neither god nor self, neither “out there” nor “in here,” for that membrane that separates the practitioner’s being and that of the world, upon awakening, has been lifted. All that remains is - ohm – absolute awe and bliss. Imagine, if you will, Moses not turning his face away from the burning bush that is god but approaching it then fully merging with that terrifying fire.
As ties deepened between the two continents, as immigration from Asia continues, and as the Dhamma [Buddha’s teachings] spreads beyond all borders, we are entering what many thinkers and philosophers call the second axial age, an age of pluralism where the various spiritual traditions co-exist.
In these global days, no single system can exist as a separate entity, nor can its borders remain impervious to change, all exist to a various degree of openness and exchange. And the old Silk Road along which so many religious ideas traveled has been replaced by a far more potent thoroughfare: unprecedented global migration, mass communications, and the information highway, which transcends geography.
I once kept on the wall in my study two very different pictures to remind me of the way East and West have changed. One is an issue from a Time magazine on Buddhism in America. In it, a group of American Buddhists sits serenely in lotus position on a wooden veranda in Malibu overlooking a calm Pacific Ocean. The other is of Vietnamese-American astronaut named Eugene Trinh’s space shuttle flight. The pictures tell me that East and West have not only met, but also commingled and fused. When a Vietnamese man who left his impoverished homeland can come very close to reaching the moon, while Americans are turning inward, trying to reach nirvana with each mindful breath, I think that East-West dialogue has come a long way.

Monday, October 25, 2010

Quỹ Tương Tế Việt Nam: 15 Năm Thành Lập


Kính thưa qúy vị đại diện các cơ quan, đoàn thể, hội đoàn
Kính thưa qúy cụ qúy ông bà và toàn thể qúy vị,

Thay mặt cho Hội đồng quản trị QTTVN, tôi xin chào mừng sự hiện diện của qúy vị. Đáp lời mời của chúng tôi, quý vị đã đến tham dự Đại hội mừng thập ngũ chu niên ngày thành lập Qũy Tương Tế Việt Nam (26-10-1995/24-10-2010).
Thời gian qua thật mau! Thấm thoắt, QTTVN đã tròn 15 tuổi.

Kính thưa qúy vị, cách đây hai  năm, trong kỳ đại hội lần thứ 13 được tổ chức vào ngày 26 tháng 10 năm 2008 cũng tại nơi này, chúng tôi đã hân hạnh báo cáo trước toàn thể đại hội với con số hội viên Qũy Tương Tế Việt Nam của chúng ta lúc bấy giờ vừa  đúng con số 2,595 người, và số tiền dự trữ phúng điếu lúc đó là $2,438,526.46 xu. Nhưng sau hai năm hoạt động số hội viên của chúng ta đã tăng thêm là 250 hội viên, nâng tổng số hội viên của chúng ta lên con số 2,845 người. Số tiền dự trữ cho qũy phúng điếu cũng đã tăng thêm được $732,164.71 xu, nâng tổng số tiền dự trữ phúng điếu của chúng ta hiện có trong tay ngày hôm nay là: $3,170,691.17 xu. Trong suốt 15 năm hoạt động, QTTVN đã có 314 hội viên qua đời tại Hoa Kỳ, tại Việt Nam và Ðài Loan. Qũy Tương Tế Việt Nam đã chi trả tiền phúng điếu cho thân nhân của 314 cố hội viên này với tổng số tiền là $3,258,000. Tiền chi trả lương nhân viên, thuê cơ sở, văn phòng phẩm, máy móc trang thiết bị cho văn phòng từ khi thành lập đến nay là $754,422.36. Như vậy sau 15 năm hoạt động số tiền mà QTTVN của chúng ta đã thủ đắc lên tới $7,183,113.53 xu. Qũy Tương Tế Việt Nam cũng đã mua 50 sinh phần tại Nghĩa Trang Oak Hill và đã nhượng lại cho các hội viên tất cả 50 sinh phần này với giá vốn và giúp cho hội viên được trả góp hàng tháng.

Chúng tôi đang phục vụ tích cực cho gần 3,000 hội viên, nhưng QTTVN cũng không quên các cố hội viên đã mãn phần. Chúng tôi đã thiết lập bàn thờ với linh vị gồm tên, tuổi, hình ảnh và ngày quá vãng của những cố hội viên này và đặt thường trực tại trụ sở  của QTTVN. Hôm nay, trong ngày Đại hội, bàn thờ linh vị ấy được an vị trên bục cao trong hội trường để tất cả qúy vị tham dự đại hội có dịp chiêm ngưỡng và tưởng niệm các hội viên đã khuất.

Các thành viên trong Hội đồng quản trị và Hội đồng Cố vấn vẫn thường xuyên tham dự những phiên họp thường lệ hay đặc biệt để nghe báo cáo về các hoạt động của QTTVN, đóng góp ý kiến, rút tỉa ưu khuyết điểm và cùng nhau tìm ra các phương huớng hoạt động tốt nhất cho việc phát triển. Trong năm 2008 chúng ta đã mất đi một vị cố vấn khả kính đó là LM Vũ Ngọc Đáng, đến năm 2009 chúng ta lại mất thêm một nhân viên Văn phòng điều hành là ông Nguyễn Tuấn Hiệp và thêm 3 vị cố vấn nữa cũng lần lượt ra đi là các ông Nguyễn Bá Cẩn, Bùi Đình Đạm và Bùi Huy Hải. Hiện nay QTTVN của chúng ta là một tổ chức tương trợ duy nhất hoạt động trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ nhằm phục vụ cho các đồng hương Việt Nam. Hội viên QTTVN hiện nay đã trải rộng trên 50 tiểu bang của Hoa Kỳ từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây  đến tận các hải đảo xa xôi của tiểu bang Hawaii trong Thái Bình Dương hay miền cực Bắc Alaska.

Ngoại trừ ba nhân viên văn phòng làm việc bán thời gian. Hội đồng quản trị, hội đồng cố vấn và giám đốc điều hành đều phục vụ với tư cách thiện nguyện, không ai nhận thù lao, trợ cấp hay bất cứ một đặc quyền đặc lợi nào cả. Việc chi, thu luôn luôn được công khai hoá, quang minh chính đại với sự kiểm soát của chuyên viên thuế vụ CPA, và Ủy viên Giám sát của Hội đồng quản trị. Phương châm làm việc của Hội đồng quản trị và Cố vấn là “Chí công vô tư”. Dù chỉ là một xu nhỏ cũng không hề bị thất thoát hay lạm dụng. Hiện nay với sự quản trị trong sáng sẵn có, và vì sự trường tồn của QTTVN, chúng tôi tha thiết kêu gọi toàn thể qúy hội viên hãy hỗ trợ về mặt tinh thần và khích lệ chúng tôi để chúng tôi làm tròn trách vụ mà qúy hội viên đã tín nhiệm trao phó cho chúng tôi. Chúng tôi cũng xin qúy hội viên tiếp tay đóng góp cho việc phát triển và củng cố QTTVN bằng cách giới thiệu rộng rãi và kêu gọi thân nhân, bằng hữu gia nhập QTTVN để QTTVN được truờng tồn mãi mãi cho các thế hệ con cháu chúng ta. Với uy tín hiện nay, chắc chắn con số hội viên cũng như tiền dự trữ phúng điếu của QTTVN chúng ta sẽ còn gia tăng nhiều hơn nữa. Chúng tôi ước mong rằng trong ngày Đại hội kỷ niệm 20 năm ngày thành lập vào tháng 10 năm 2015, chúng tôi sẽ được hân hạnh báo cáo trước toàn thể qúy vị hội viên những thành quả tốt đẹp hơn hôm nay rất nhiều. Xin ơn Trên phù hộ chúng ta. Xin cầu chúc qúy vị thật dồi dào sức khỏe và trường thọ để vui hưởng tuổi già bên cạnh con cái, cháu chắt và thân nhân bằng hữu.

Trân trọng kính chào qúy vị,

Nguyễn Trung Hòa
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị

Thursday, October 14, 2010

Phụ Nữ & Đồng Hồ Sinh Học

Ngọc Thụy


Khi đạt đến tuổi 30, người phụ nữ hầu như không còn gì trong buồng trứng, trong khi lúc còn ở thời kỳ phôi thai, hai buồng trứng có khoảng sáu triệu bọc trứng non, đến khi ra đời còn lại một triệu và chỉ còn 40.000 lúc tới tuổi dậy thì. Kết quả nghiên cứu mới nhứt cho thấy phụ nữ triển hạn việc có con có thể sẽ gặp nhiều trở ngại từ lúc đậu thai đến khi sinh nở. Cuộc điều tra khoa học do đại học University of St. AndrewsEdinburgh University ở Scotland thực hiện đã phát hiện ra rằng khi đến độ tuổi 30, phụ nữ chỉ còn 10% số trứng trong người và đến tuổi 40 còn chừng 3%. Ở tuổi 50-51, buồng trứng coi như hết “hàng.”
Bản tin đăng trên trang nhà của hai đại học ở Scotland nói rằng đây là bằng chứng nữa về việc phụ nữ sinh ra đời với số lượng trứng nhất định, và lượng này giảm dần với tuổi đời càng cao. Dựa trên kết quả này, người ta có thể tiên đoán chính xác tuổi mãn kinh nơi người phụ nữ khỏe mạnh đồng thời cũng giúp duy trì khả năng sinh sản trong nhóm phụ nữ đang chữa trị bệnh ung thư.
Trước đây người ta vẫn hiểu rằng phụ nữ lớn tuổi gặp khó khăn trong khâu đậu thai, kể cả sinh con yếu ớt bệnh tật nếu có thai nhưng nghiên cứu này cho thấy rõ lượng trứng mất hay còn là bao nhiêu, và lượng trứng bị đào thải với tuổi có tốc độ nhanh hơn người ta vẫn lầm tưởng.

Các khoa học gia của hai trường đã dùng dữ liệu thu thập từ 325 phụ nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau tại Anh quốc, Mỹ, và Châu Âu và khẳng định đồng hồ sinh học của phụ nữ chạy rất đúng giờ và không thể vặn lui được. Bởi vậy lời khuyên được đưa ra là nên có con càng sớm càng tốt - tốt nhất là cuối 30 đầu 40 tuổi. Ngay cả dùng phương pháp cấy thai nhân tạo (in vitro fertilization) cũng chỉ 10% phụ nữ 40 đạt thành công trong một lần cấy. Tuy nhiên tuổi thọ của buồng trứng có thể làm chậm lại phần nào nếu bỏ thuốc lá, giảm cân và tránh stress. Phụ nữ sanh con nhiều lần sẽ có khả năng duy trì tình trạng sinh sản lâu hơn.
Để kết luận Bác Sĩ Tom Kelsey thuộc trường St. Andrews muốn chuyển lời nhắn đến nhóm phụ nữ có ý định triển hạn việc mang bầu và sinh con rằng văn hóa có thay đổi thì ngược lại đồng hồ sinh học của con người không thay đổi với cùng tốc độ.
Trang web http://www.health.com trích nghiên cứu của khoa sản American Society for Reproductive Medicine, phụ nữ 30 tuổi đầy đủ sức khỏe chỉ có khoảng 20% khả năng thụ thai tự nhiên, đến 40 tỉ lệ giảm còn 5%. Gần như 1/3 phụ nữ từ 40 đến 44 không khả năng thụ thai, so với 22% khi ở tuổi 35 đến 39 và chỉ 9% ở tuổi 25-29.
Bản tin dẫn lời Bác Sĩ Richard Paulson, một khoa học gia hàng đầu về thai sản, nói rằng: “Khi đến tuổi 43 hay 44, phụ nữ chỉ có mỗi tháng 1% khả năng thụ thai tự nhiên, sau đó thì phải nhờ vào trứng của người cho.”
http://living.health.com/2009/05/18/fertility-success-rates-30s-and-40s/

Wednesday, October 6, 2010

The Education of a Vietnamese American Writer

Andrew Lam


One summer afternoon many years ago, I stole home and robbed my parents of their American Dream. I wasn’t going to be a doctor, after all. I was going to study creative writing. When they heard the new, it was as if all the air had been sucked out of the living room. Mother covered her mouth and cried; Father cursed in French. Older brother shook his head and left the room. I sat silent and defiant. I was only a small child when we fled Vietnam in 1975, but I remember how I trembled then as my small world collapsed around me. I trembled on this day, too, as I told my parents that I was following my passion.
At UC Berkeley, more than half of those in the Vietnamese Students Association, to which I belonged, majored in computer science and electrical engineering. These fields were highly competitive. A few told me they didn’t want to become engineers: some wanted to be artists, or architects, and had ample talent to do so, but their parents were against them. It was worse for those with family still living in impoverished Vietnam. One, in particular, was an “anchor kid” whose family sold everything to buy him perilous passage across the South China Sea on a boatful of refugees. He knew that others were literally dying for the opportunities he had before him, and failure was not an option. Many of my friends were driven; theirs was an iron will to achieve academic success. On the wall of the dorm room of a Vietnamese friend was his painting of a mandarin dressed in silk brocade and wearing a hat. Flanked by soldiers carrying banners, the young mandarin rides in an ornate carriage while peasants look on and cheer. It was a visual sutra to help him focus on his studies.

And I, with a degree in biochemistry and on a path to attend medical school to the delight of my parents, was, in their eyes, throwing it all away – for what? I had, in secret, applied to and been accepted into the graduate program in creative writing at San Francisco State University. “Andrew, you are not going to medical school,” said Helen, my first writing teacher after reading one of my short stories. My response was entirely lacking in eloquence. “But … but … my mom is going to kill me.” Filial piety was ingrained in me long before I stepped foot onto American shores. It is in essence the opposite of individualism. “Father’s benefaction is like Mount Everest, Mother’s love like the water from the purest source,” we sang in first grade. If American teenagers long to be free and to find themselves, Vietnamese are taught filial obligation, forever honoring and fulfilling a debt incurred in their name.
My mom didn’t kill me; she wept. It was my father who vented his fury. “I wanted to write, too, you know, when I was young. I studied French poetry and philosophy. But do you think I could feed our family on poems? Can you name one Vietnamese who’s making a living as an American writer? What makes you think you can do it?” This was the late ‘80s, and the vast majority in our community were first-generation refugees, many of them boat people who had subsisted for years in refugee camps in Southeast Asia.
“I can’t name one,’ I said. “There may not be anyone right now. So, I’ll be the first.”
Father looked at me and with that look I knew he was not expecting an answer; it was not how I talked in the family, which was to say respectfully and with vague compliance. Perhaps for the first time, he was assessing me anew.
I matched his gaze, which both thrilled and terrified me. And crossing that invisible line, failure was no longer an option. My friend with the painting of a mandarin became an optometrist and gave up art. I remember the first time he showed me the picture of the mandarin, saying “Do trang nguyen ve lang” – Vietnamese for, ‘Mandarin returns home after passing the imperial examination.” But the image needed no explanation, to me or any student from Confucian Asia, it embodied the dream of glorious academic achievement and with it influence and wealth for the entire family. Villages and towns pooled resources and sent their best and brightest to compete at the imperial court, hoping that one of their own would make it to the center of power. Mandarins were selected and ranked according to their performance in the rigorous examinations, which took place every four years.

Vietnam was for a long time a tributary of China and it was governed by mandarins, a meritocracy open to even the lowest peasant if he had the determination and ability to prevail. Of all the temples in Hanoi, the most beautiful is Van Mieu, the Temple of Literature, dedicated to all those laureates of Vietnam who became mandarins, their names etched on stone steles going back eight centuries.
It was Vietnam’s first university, the Imperial Academy. That it became a temple to the worship of education seems entirely appropriate.
Under French colonial rule, China’s imperial examinations were replaced by the baccalaureate. To have passed its requirements was something so rare that one’s name was forever connected to the title. My paternal grandmother’s closest friend was Ong Tu Tai Quoc – Mr. “Baccalaureate” Quoc.
My paternal grandfather’s baccalaureate took him to Bordeaux to study law and when he returned, he married the daughter of one of the wealthiest men in the Mekong Delta. And for Vietnamese in America, education is everything. So, for someone lucky enough to escape the horrors of post-war Vietnam and be handed through the hard work of his parents the opportunity to become a doctor, to say “no, thank you” was akin to Confucian sin. By refusing to fulfill my expected role within the family, I was being dishonorable. “Selfish,” more than a few relatives called me.
But part of America’s seduction is that it invites betrayal of the parochial. The old culture demands the child to obey and honor the wishes of his parents. America tells him to think for himself and look out for number one. America spurs rebellion of the individual against the communal: follow your dream. It also demands it: life, liberty and the pursuit of happiness.
Many children of Asian immigrants learn early to negotiate between the “I” and the “We,” between seemingly opposed ideas and flagrant contradictions, in order to appease and survive in both cultures.

In Vietnam, as a child during the war, I read French comic books and martial arts epics translated from Chinese into Vietnamese, even my mother’s indulgent romance novels. In America, I read American novels and spent my spare time in public libraries, devoting the summers to devouring book after book. When not studying, I was reading. If I was encouraged to mourn the loss of my homeland, I was also glad that I became an American because here, and perhaps nowhere else, as mythologist Joseph Campbell urges, I could follow my passion, my bliss.

Some years passed…
Eavesdropping from upstairs during a visit home, I heard my mother greeting friends and learned of a new addition to our family. “These are Andrew Lam’s awards,” she said, motioning to a bookshelf displaying my trophies, diplomas, and writing awards. “Andrew Lam” was stressed with a tone of importance. “My son, the Berkeley radical,” my father would say by way of talking about me to his friends. “Parents give birth to children,” adds my mother, “God gives birth to their personalities.”
Later that day, I went out to my parent’s backyard for a swim. It was in mid-September when kids were going back to school and leaves had started to turn colors. Though it was sunny out the water was very cold. I remember standing on tip-toe for a long time at the pool’s edge, fearing the inevitable plunge, yet longing for the seductive blue water. Then, I closed my eyes, took a breath, and leapt. It was cold. But as I adjusted to the temperature and swam, I couldn’t understand why I hesitated for so long.
Finding and following my passion and path in life is a bit like that. Scary. Delightful. A struggle — to be sure. But once I dove into the pool, I took to the water. And I kept on swimming.

NAM Senior Editor Andrew Lam is the author of “Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora” and “East Eats West: Writing in Two Hemispheres,” now available.