Thursday, October 28, 2010

Buddha in the West: Dalai Lama as Super Star

Andrew Lam

Americans may still debate the merits of Islam and argue over the building of an Islamic Center near Ground Zero, but the other branch of spirituality, Buddhism, is apparently more than welcome.
For a few days last week the Dalai Lama, who by far is the most famous Buddhist monk in the world, is celebrated at Emory University. People paid to come hear him. According to Atlantic Month, “seated above a bank of chrysanthemums, the Dalai Lama seemed one part royalty, one part rock star.”
In the last half of the 20th Century, America cunningly exported itself overseas, marketing its images, ideologies, products and religions with ingenuity and zeal, but what it has not been able to fully assess or prepare for are the effects in reverse. For if Americanization is a large part of globalization, the Easternization of the West, too, is the other side of the phenomenon.
I take it as some cosmic law of exchange that if Disneyland pops up in Hong Kong and Tokyo, Buddhist temples can sprout up in Los Angeles, home of the magic kingdom. Indeed, it comes as no surprise to many Californians that scholars have agreed that the most complex Buddhist city in the world is nowhere in Asia but Los Angeles itself, where there are more than 300 Buddhist temples and centers, representing nearly all of Buddhist practices around the world.
Over the past 25 years, Buddhism has become the third most popular religion in America behind Christianity and Judaism, according to a 2008 report from the Pew Forum on Religion and Public Life. Evidence of Buddhism spreading deep roots in America is abundant.
A few months ago CNN reported that, “programs and workshops educating inmates about meditation and yoga are sprouting up across the country.” There are more than 75 organizations working with some 2,500 people, most of them prisoners, and they inspired a documentary called “The Dhamma Brothers.”
Last December, Thomas Dyer, a former Marine and one-time Southern Baptist pastor, will head to Afghanistan as the first Buddhist chaplain in the history of the U.S. Army.
Yet, despite Buddhism’s message of inner peace and compassion, it, in its own way, is a very radical spiritual practice for its refutation of the existence of a creator. In essence, the serious practitioner aims to extinguish the self by defeating his own ego and, thereby, seeing beyond the illusion spun by the ignorant mind.
The ultimate Buddhist experience entails neither god nor self, neither “out there” nor “in here,” for that membrane that separates the practitioner’s being and that of the world, upon awakening, has been lifted. All that remains is - ohm – absolute awe and bliss. Imagine, if you will, Moses not turning his face away from the burning bush that is god but approaching it then fully merging with that terrifying fire.
As ties deepened between the two continents, as immigration from Asia continues, and as the Dhamma [Buddha’s teachings] spreads beyond all borders, we are entering what many thinkers and philosophers call the second axial age, an age of pluralism where the various spiritual traditions co-exist.
In these global days, no single system can exist as a separate entity, nor can its borders remain impervious to change, all exist to a various degree of openness and exchange. And the old Silk Road along which so many religious ideas traveled has been replaced by a far more potent thoroughfare: unprecedented global migration, mass communications, and the information highway, which transcends geography.
I once kept on the wall in my study two very different pictures to remind me of the way East and West have changed. One is an issue from a Time magazine on Buddhism in America. In it, a group of American Buddhists sits serenely in lotus position on a wooden veranda in Malibu overlooking a calm Pacific Ocean. The other is of Vietnamese-American astronaut named Eugene Trinh’s space shuttle flight. The pictures tell me that East and West have not only met, but also commingled and fused. When a Vietnamese man who left his impoverished homeland can come very close to reaching the moon, while Americans are turning inward, trying to reach nirvana with each mindful breath, I think that East-West dialogue has come a long way.

Monday, October 25, 2010

Quỹ Tương Tế Việt Nam: 15 Năm Thành Lập


Kính thưa qúy vị đại diện các cơ quan, đoàn thể, hội đoàn
Kính thưa qúy cụ qúy ông bà và toàn thể qúy vị,

Thay mặt cho Hội đồng quản trị QTTVN, tôi xin chào mừng sự hiện diện của qúy vị. Đáp lời mời của chúng tôi, quý vị đã đến tham dự Đại hội mừng thập ngũ chu niên ngày thành lập Qũy Tương Tế Việt Nam (26-10-1995/24-10-2010).
Thời gian qua thật mau! Thấm thoắt, QTTVN đã tròn 15 tuổi.

Kính thưa qúy vị, cách đây hai  năm, trong kỳ đại hội lần thứ 13 được tổ chức vào ngày 26 tháng 10 năm 2008 cũng tại nơi này, chúng tôi đã hân hạnh báo cáo trước toàn thể đại hội với con số hội viên Qũy Tương Tế Việt Nam của chúng ta lúc bấy giờ vừa  đúng con số 2,595 người, và số tiền dự trữ phúng điếu lúc đó là $2,438,526.46 xu. Nhưng sau hai năm hoạt động số hội viên của chúng ta đã tăng thêm là 250 hội viên, nâng tổng số hội viên của chúng ta lên con số 2,845 người. Số tiền dự trữ cho qũy phúng điếu cũng đã tăng thêm được $732,164.71 xu, nâng tổng số tiền dự trữ phúng điếu của chúng ta hiện có trong tay ngày hôm nay là: $3,170,691.17 xu. Trong suốt 15 năm hoạt động, QTTVN đã có 314 hội viên qua đời tại Hoa Kỳ, tại Việt Nam và Ðài Loan. Qũy Tương Tế Việt Nam đã chi trả tiền phúng điếu cho thân nhân của 314 cố hội viên này với tổng số tiền là $3,258,000. Tiền chi trả lương nhân viên, thuê cơ sở, văn phòng phẩm, máy móc trang thiết bị cho văn phòng từ khi thành lập đến nay là $754,422.36. Như vậy sau 15 năm hoạt động số tiền mà QTTVN của chúng ta đã thủ đắc lên tới $7,183,113.53 xu. Qũy Tương Tế Việt Nam cũng đã mua 50 sinh phần tại Nghĩa Trang Oak Hill và đã nhượng lại cho các hội viên tất cả 50 sinh phần này với giá vốn và giúp cho hội viên được trả góp hàng tháng.

Chúng tôi đang phục vụ tích cực cho gần 3,000 hội viên, nhưng QTTVN cũng không quên các cố hội viên đã mãn phần. Chúng tôi đã thiết lập bàn thờ với linh vị gồm tên, tuổi, hình ảnh và ngày quá vãng của những cố hội viên này và đặt thường trực tại trụ sở  của QTTVN. Hôm nay, trong ngày Đại hội, bàn thờ linh vị ấy được an vị trên bục cao trong hội trường để tất cả qúy vị tham dự đại hội có dịp chiêm ngưỡng và tưởng niệm các hội viên đã khuất.

Các thành viên trong Hội đồng quản trị và Hội đồng Cố vấn vẫn thường xuyên tham dự những phiên họp thường lệ hay đặc biệt để nghe báo cáo về các hoạt động của QTTVN, đóng góp ý kiến, rút tỉa ưu khuyết điểm và cùng nhau tìm ra các phương huớng hoạt động tốt nhất cho việc phát triển. Trong năm 2008 chúng ta đã mất đi một vị cố vấn khả kính đó là LM Vũ Ngọc Đáng, đến năm 2009 chúng ta lại mất thêm một nhân viên Văn phòng điều hành là ông Nguyễn Tuấn Hiệp và thêm 3 vị cố vấn nữa cũng lần lượt ra đi là các ông Nguyễn Bá Cẩn, Bùi Đình Đạm và Bùi Huy Hải. Hiện nay QTTVN của chúng ta là một tổ chức tương trợ duy nhất hoạt động trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ nhằm phục vụ cho các đồng hương Việt Nam. Hội viên QTTVN hiện nay đã trải rộng trên 50 tiểu bang của Hoa Kỳ từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây  đến tận các hải đảo xa xôi của tiểu bang Hawaii trong Thái Bình Dương hay miền cực Bắc Alaska.

Ngoại trừ ba nhân viên văn phòng làm việc bán thời gian. Hội đồng quản trị, hội đồng cố vấn và giám đốc điều hành đều phục vụ với tư cách thiện nguyện, không ai nhận thù lao, trợ cấp hay bất cứ một đặc quyền đặc lợi nào cả. Việc chi, thu luôn luôn được công khai hoá, quang minh chính đại với sự kiểm soát của chuyên viên thuế vụ CPA, và Ủy viên Giám sát của Hội đồng quản trị. Phương châm làm việc của Hội đồng quản trị và Cố vấn là “Chí công vô tư”. Dù chỉ là một xu nhỏ cũng không hề bị thất thoát hay lạm dụng. Hiện nay với sự quản trị trong sáng sẵn có, và vì sự trường tồn của QTTVN, chúng tôi tha thiết kêu gọi toàn thể qúy hội viên hãy hỗ trợ về mặt tinh thần và khích lệ chúng tôi để chúng tôi làm tròn trách vụ mà qúy hội viên đã tín nhiệm trao phó cho chúng tôi. Chúng tôi cũng xin qúy hội viên tiếp tay đóng góp cho việc phát triển và củng cố QTTVN bằng cách giới thiệu rộng rãi và kêu gọi thân nhân, bằng hữu gia nhập QTTVN để QTTVN được truờng tồn mãi mãi cho các thế hệ con cháu chúng ta. Với uy tín hiện nay, chắc chắn con số hội viên cũng như tiền dự trữ phúng điếu của QTTVN chúng ta sẽ còn gia tăng nhiều hơn nữa. Chúng tôi ước mong rằng trong ngày Đại hội kỷ niệm 20 năm ngày thành lập vào tháng 10 năm 2015, chúng tôi sẽ được hân hạnh báo cáo trước toàn thể qúy vị hội viên những thành quả tốt đẹp hơn hôm nay rất nhiều. Xin ơn Trên phù hộ chúng ta. Xin cầu chúc qúy vị thật dồi dào sức khỏe và trường thọ để vui hưởng tuổi già bên cạnh con cái, cháu chắt và thân nhân bằng hữu.

Trân trọng kính chào qúy vị,

Nguyễn Trung Hòa
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị

Thursday, October 14, 2010

Phụ Nữ & Đồng Hồ Sinh Học

Ngọc Thụy


Khi đạt đến tuổi 30, người phụ nữ hầu như không còn gì trong buồng trứng, trong khi lúc còn ở thời kỳ phôi thai, hai buồng trứng có khoảng sáu triệu bọc trứng non, đến khi ra đời còn lại một triệu và chỉ còn 40.000 lúc tới tuổi dậy thì. Kết quả nghiên cứu mới nhứt cho thấy phụ nữ triển hạn việc có con có thể sẽ gặp nhiều trở ngại từ lúc đậu thai đến khi sinh nở. Cuộc điều tra khoa học do đại học University of St. AndrewsEdinburgh University ở Scotland thực hiện đã phát hiện ra rằng khi đến độ tuổi 30, phụ nữ chỉ còn 10% số trứng trong người và đến tuổi 40 còn chừng 3%. Ở tuổi 50-51, buồng trứng coi như hết “hàng.”
Bản tin đăng trên trang nhà của hai đại học ở Scotland nói rằng đây là bằng chứng nữa về việc phụ nữ sinh ra đời với số lượng trứng nhất định, và lượng này giảm dần với tuổi đời càng cao. Dựa trên kết quả này, người ta có thể tiên đoán chính xác tuổi mãn kinh nơi người phụ nữ khỏe mạnh đồng thời cũng giúp duy trì khả năng sinh sản trong nhóm phụ nữ đang chữa trị bệnh ung thư.
Trước đây người ta vẫn hiểu rằng phụ nữ lớn tuổi gặp khó khăn trong khâu đậu thai, kể cả sinh con yếu ớt bệnh tật nếu có thai nhưng nghiên cứu này cho thấy rõ lượng trứng mất hay còn là bao nhiêu, và lượng trứng bị đào thải với tuổi có tốc độ nhanh hơn người ta vẫn lầm tưởng.

Các khoa học gia của hai trường đã dùng dữ liệu thu thập từ 325 phụ nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau tại Anh quốc, Mỹ, và Châu Âu và khẳng định đồng hồ sinh học của phụ nữ chạy rất đúng giờ và không thể vặn lui được. Bởi vậy lời khuyên được đưa ra là nên có con càng sớm càng tốt - tốt nhất là cuối 30 đầu 40 tuổi. Ngay cả dùng phương pháp cấy thai nhân tạo (in vitro fertilization) cũng chỉ 10% phụ nữ 40 đạt thành công trong một lần cấy. Tuy nhiên tuổi thọ của buồng trứng có thể làm chậm lại phần nào nếu bỏ thuốc lá, giảm cân và tránh stress. Phụ nữ sanh con nhiều lần sẽ có khả năng duy trì tình trạng sinh sản lâu hơn.
Để kết luận Bác Sĩ Tom Kelsey thuộc trường St. Andrews muốn chuyển lời nhắn đến nhóm phụ nữ có ý định triển hạn việc mang bầu và sinh con rằng văn hóa có thay đổi thì ngược lại đồng hồ sinh học của con người không thay đổi với cùng tốc độ.
Trang web http://www.health.com trích nghiên cứu của khoa sản American Society for Reproductive Medicine, phụ nữ 30 tuổi đầy đủ sức khỏe chỉ có khoảng 20% khả năng thụ thai tự nhiên, đến 40 tỉ lệ giảm còn 5%. Gần như 1/3 phụ nữ từ 40 đến 44 không khả năng thụ thai, so với 22% khi ở tuổi 35 đến 39 và chỉ 9% ở tuổi 25-29.
Bản tin dẫn lời Bác Sĩ Richard Paulson, một khoa học gia hàng đầu về thai sản, nói rằng: “Khi đến tuổi 43 hay 44, phụ nữ chỉ có mỗi tháng 1% khả năng thụ thai tự nhiên, sau đó thì phải nhờ vào trứng của người cho.”
http://living.health.com/2009/05/18/fertility-success-rates-30s-and-40s/

Wednesday, October 6, 2010

The Education of a Vietnamese American Writer

Andrew Lam


One summer afternoon many years ago, I stole home and robbed my parents of their American Dream. I wasn’t going to be a doctor, after all. I was going to study creative writing. When they heard the new, it was as if all the air had been sucked out of the living room. Mother covered her mouth and cried; Father cursed in French. Older brother shook his head and left the room. I sat silent and defiant. I was only a small child when we fled Vietnam in 1975, but I remember how I trembled then as my small world collapsed around me. I trembled on this day, too, as I told my parents that I was following my passion.
At UC Berkeley, more than half of those in the Vietnamese Students Association, to which I belonged, majored in computer science and electrical engineering. These fields were highly competitive. A few told me they didn’t want to become engineers: some wanted to be artists, or architects, and had ample talent to do so, but their parents were against them. It was worse for those with family still living in impoverished Vietnam. One, in particular, was an “anchor kid” whose family sold everything to buy him perilous passage across the South China Sea on a boatful of refugees. He knew that others were literally dying for the opportunities he had before him, and failure was not an option. Many of my friends were driven; theirs was an iron will to achieve academic success. On the wall of the dorm room of a Vietnamese friend was his painting of a mandarin dressed in silk brocade and wearing a hat. Flanked by soldiers carrying banners, the young mandarin rides in an ornate carriage while peasants look on and cheer. It was a visual sutra to help him focus on his studies.

And I, with a degree in biochemistry and on a path to attend medical school to the delight of my parents, was, in their eyes, throwing it all away – for what? I had, in secret, applied to and been accepted into the graduate program in creative writing at San Francisco State University. “Andrew, you are not going to medical school,” said Helen, my first writing teacher after reading one of my short stories. My response was entirely lacking in eloquence. “But … but … my mom is going to kill me.” Filial piety was ingrained in me long before I stepped foot onto American shores. It is in essence the opposite of individualism. “Father’s benefaction is like Mount Everest, Mother’s love like the water from the purest source,” we sang in first grade. If American teenagers long to be free and to find themselves, Vietnamese are taught filial obligation, forever honoring and fulfilling a debt incurred in their name.
My mom didn’t kill me; she wept. It was my father who vented his fury. “I wanted to write, too, you know, when I was young. I studied French poetry and philosophy. But do you think I could feed our family on poems? Can you name one Vietnamese who’s making a living as an American writer? What makes you think you can do it?” This was the late ‘80s, and the vast majority in our community were first-generation refugees, many of them boat people who had subsisted for years in refugee camps in Southeast Asia.
“I can’t name one,’ I said. “There may not be anyone right now. So, I’ll be the first.”
Father looked at me and with that look I knew he was not expecting an answer; it was not how I talked in the family, which was to say respectfully and with vague compliance. Perhaps for the first time, he was assessing me anew.
I matched his gaze, which both thrilled and terrified me. And crossing that invisible line, failure was no longer an option. My friend with the painting of a mandarin became an optometrist and gave up art. I remember the first time he showed me the picture of the mandarin, saying “Do trang nguyen ve lang” – Vietnamese for, ‘Mandarin returns home after passing the imperial examination.” But the image needed no explanation, to me or any student from Confucian Asia, it embodied the dream of glorious academic achievement and with it influence and wealth for the entire family. Villages and towns pooled resources and sent their best and brightest to compete at the imperial court, hoping that one of their own would make it to the center of power. Mandarins were selected and ranked according to their performance in the rigorous examinations, which took place every four years.

Vietnam was for a long time a tributary of China and it was governed by mandarins, a meritocracy open to even the lowest peasant if he had the determination and ability to prevail. Of all the temples in Hanoi, the most beautiful is Van Mieu, the Temple of Literature, dedicated to all those laureates of Vietnam who became mandarins, their names etched on stone steles going back eight centuries.
It was Vietnam’s first university, the Imperial Academy. That it became a temple to the worship of education seems entirely appropriate.
Under French colonial rule, China’s imperial examinations were replaced by the baccalaureate. To have passed its requirements was something so rare that one’s name was forever connected to the title. My paternal grandmother’s closest friend was Ong Tu Tai Quoc – Mr. “Baccalaureate” Quoc.
My paternal grandfather’s baccalaureate took him to Bordeaux to study law and when he returned, he married the daughter of one of the wealthiest men in the Mekong Delta. And for Vietnamese in America, education is everything. So, for someone lucky enough to escape the horrors of post-war Vietnam and be handed through the hard work of his parents the opportunity to become a doctor, to say “no, thank you” was akin to Confucian sin. By refusing to fulfill my expected role within the family, I was being dishonorable. “Selfish,” more than a few relatives called me.
But part of America’s seduction is that it invites betrayal of the parochial. The old culture demands the child to obey and honor the wishes of his parents. America tells him to think for himself and look out for number one. America spurs rebellion of the individual against the communal: follow your dream. It also demands it: life, liberty and the pursuit of happiness.
Many children of Asian immigrants learn early to negotiate between the “I” and the “We,” between seemingly opposed ideas and flagrant contradictions, in order to appease and survive in both cultures.

In Vietnam, as a child during the war, I read French comic books and martial arts epics translated from Chinese into Vietnamese, even my mother’s indulgent romance novels. In America, I read American novels and spent my spare time in public libraries, devoting the summers to devouring book after book. When not studying, I was reading. If I was encouraged to mourn the loss of my homeland, I was also glad that I became an American because here, and perhaps nowhere else, as mythologist Joseph Campbell urges, I could follow my passion, my bliss.

Some years passed…
Eavesdropping from upstairs during a visit home, I heard my mother greeting friends and learned of a new addition to our family. “These are Andrew Lam’s awards,” she said, motioning to a bookshelf displaying my trophies, diplomas, and writing awards. “Andrew Lam” was stressed with a tone of importance. “My son, the Berkeley radical,” my father would say by way of talking about me to his friends. “Parents give birth to children,” adds my mother, “God gives birth to their personalities.”
Later that day, I went out to my parent’s backyard for a swim. It was in mid-September when kids were going back to school and leaves had started to turn colors. Though it was sunny out the water was very cold. I remember standing on tip-toe for a long time at the pool’s edge, fearing the inevitable plunge, yet longing for the seductive blue water. Then, I closed my eyes, took a breath, and leapt. It was cold. But as I adjusted to the temperature and swam, I couldn’t understand why I hesitated for so long.
Finding and following my passion and path in life is a bit like that. Scary. Delightful. A struggle — to be sure. But once I dove into the pool, I took to the water. And I kept on swimming.

NAM Senior Editor Andrew Lam is the author of “Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora” and “East Eats West: Writing in Two Hemispheres,” now available.

Thursday, September 30, 2010

Da Cam: Vết Thương Chưa Lành

Đức Hà

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt nay đã 35 năm hơn, và mối quan hệ giữa hai nước cựu thù ngày càng trở nên tốt đẹp tuy vậy một cuộc chiến khác, tàn khốc không kém, vẫn âm ỉ hủy hoại con người và có thể còn tiếp diễn sang nhiều thế hệ nữa. Vấn đề nghiêm trọng này đang được cả hai phía Mỹ - Việt rốt ráo tìm cách giải quyết hầu có thể khép lại trang sử đau buồn cuối cùng.
Trong chuyến công du Hà Nội hồi tháng Bảy, Ngoại Trưởng Hillary Clinton cam kết Hoa Kỳ sẽ tích cực hợp tác giải quyết hệ quả của cuộc chiến liên quan đến hóa chất diệt cỏ từng được quân đội Mỹ sử dụng tước đây. Trong cùng lúc tại Mỹ, Bộ Cựu Chiến Binh cũng nhìn nhận 14 loại bệnh để được hưởng các khoản bồi thường và dự kiến liệt kê thêm bệnh tim, ung thư máu và Parkinson’s.
Thành quả đạt được ngày hôm nay là nỗ lực đấu tranh lâu dài và kiên trì của nhiều cá nhân, nhiều tổ chức thiện nguyện và phi chánh phủ. Tham gia vào cuộc vận động này có một người Mỹ gốc Việt, Giáo Sư Tiến Sĩ Ngô Thanh Nhàn thuộc đại học New York University. Tình thương đồng loại và tình bạn đã đưa đẩy ông đến với các nạn nhân Mỹ và Việt:
“Tôi có nhiều bạn cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam từ những năm 1968, và nhiều bạn cựu chiến binh Mỹ có mặt trong các cuộc chiến khác. Nhiều người chết vì Chất Da Cam, nhiều người sống trong bệnh tật. Nói chung họ nghèo. Vụ kiện của họ trong những năm 1980’s không thành công và vấn đề Da Cam bị quên lãng. Có người trước đây nhất định không khai bệnh nhưng nay tuổi già, bắt đầu phải khai báo trong lúc chính sách của Bộ Cựu Chiến Binh Mỹ cũng rộng rãi hơn.”

Và khi Việt Nam khởi kiện 37 công ty hoá chất tại tòa án Mỹ năm 2004, Hội Cựu chiến Binh Vì Hòa bình (Veterans For Peace) kêu gọi thành lập cuộc Vận Động Cứu Trợ và Trách Nhiệm đối với Nạn Nhân Chất Da Cam Việt Nam - Vietnam Agent Orange Relief & Responsibility Campaign, Giáo Sư Nhàn trở thành một trong những người chính tham gia cuộc vận động với trang nhà http://www.vn-agentorange.org là tiếng nói chính thức của cuộc vận động.
Ông cho biết dự án hoạt động ra đời ngày 27 tháng Giêng 2005 nhắm vào ba đối tượng nạn nhân là cựu chiến binh Mỹ và con cháu nhiễm bệnh, nạn nhân người Việt tại Mỹ cùng gia đình, và nạn nhân ở Việt Nam thuộc nhiều thế hệ.
Nhưng cho đến nay chỉ có cựu quân nhân Hoa Kỳ và nạn nhân ở Việt Nam đạt được nguyện vọng. Nạn nhân Da Cam trong cộng đồng Việt ở Mỹ không được nhắc tới.

Câu Chuyện Da Cam

Trong suốt 10 năm từ 1961 đến 1971, quân đội Mỹ đã rải 20 triệu gallons hóa chất diệt cỏ tại Nam Việt Nam, và vùng biên giới sát với Kampuchia và Lào. Ước lượng 10% diện tích của Miền Nam - từ vĩ tuyến 17 đến đồng bằng sông Cửu Long, bị rải thuốc chứa trong các thùng 55 gallons sơn vạch màu da cam với tỉ lệ gấp 13 lần nhiều hơn chỉ định. Phần lớn những sự tàn phá trên cây cỏ và rừng kéo dài cả chục năm mới có khả năng hồi phục, cho dù các thành phần hóa học của Chất Da Cam – không ảnh hưởng vào sức khỏe con người sẽ tan biến sau khi được phun ra. Nhưng có khoảng 2/3 lượng thuốc sử dụng bị nhiễm chất dioxin TCDD độc hại và đó mới là nguyên nhân chính yếu của nhiều dạng ung thư và hàng loạt các bệnh khác kể cả quái thai, sinh con khuyết tật. Có nơi tỉ lệ chất dioxin trong nước và đất gấp trăm lần mức chấp nhận được – phần lớn chung quanh các sân bay quân sự nơi tồn trữ kho hóa chất diệt cây cỏ. Tuy nhiên nếu tác hại của hóa chất khai quang trên môi trường có thể khắc phục được thì tác hại trên con người lại là một vấn đề nan giải vì có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Bộ Cựu Chiến Binh Mỹ thống kê 2.6 triệu quân nhân Mỹ bị phơi nhiễm tác nhân Da Cam. Phía Việt Nam cho hay 4.8 triệu dân Việt bị nhiễm hóa chất độc, làm 400,000 người chết hay tàn tật và nửa triệu trẻ sinh ra dị tật. Còn một thành phần nữa là người Việt đang sống tại Mỹ trong đó có cựu quân nhân và thường dân - không thể có khả năng miễn nhiễm khi tiếp xúc với hóa chất này thì chưa có con số nào được đưa ra. Trang web War Legacies – http://www.warlegacies.org viết rõ: “Hiện chưa có cuộc nghiên cứu nào về ảnh hưởng của Chất Da Cam/dioxin đối với sức khỏe của gần hai triệu người Mỹ gốc Việt.”
Sau khi xác định Chất Da Cam/dioxin có ảnh hưởng đến sức khỏe con người, Bộ Cựu Chiến Binh cho binh sĩ Mỹ tham chiến tại Việt Nam được hưởng nhiều quyền lợi kể cả chăm sóc sức khỏe và con cái nếu bị spina bifia (một dạng cong cột sống) hay dị tật dị dạng cũng được hưởng thêm các đặc lợi khác. Còn tại Việt Nam Hoa Kỳ tuy vẫn khẳng định không có chứng minh khoa học chính xác cho thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa tác nhân Da Cam và sức khỏe con người, nhưng trong những năm gần đây đã có các cuộc thảo luận tích cực giữa hai phía nhằm khai thông vấn đề này.

Tháng Sáu vừa qua Nhóm Đối Thoại Việt – Mỹ cho phổ biến kế hoạch hành động kêu gọi chính phủ Mỹ và các nhà hảo tâm đóng góp một ngân khoản ước lượng 300 triệu đô-la trong vòng 10 năm tới để làm sạch môi trường và chữa trị cùng giúp đỡ những nạn nhân bị nghi ngờ có liên hệ đến hóa chất Da Cam/dioxin.
Về thành phần người Mỹ gốc Việt, Tiến Sĩ Nhàn giải thích:
“Khởi đầu, người Mỹ nghĩ chỉ có cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm độc, cộng đồng người Việt im lặng, nên chúng tôi mời nạn nhân tại Việt Nam sang Mỹ và nói chuyện tại nhiều thành phố, đến tháng Bẩy vừa qua đoàn Việt Nam, gồm bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng và nạn nhân Trần Thị Hoan – sinh ra không có chân và thiếu một cánh tay, được mời điều trần tại Quốc Hội Mỹ.”
Ông Nhàn cho hay tất cả các nước khác có tham chiến tại Việt Nam như Nam Hàn, Úc, Tân Tây Lan, Canađa, và cả Anh đều được sự giúp đỡ ở nước họ. 

Nếu nhóm biệt kích của Nam Việt Nam khi định cư tại Mỹ sau cùng đều được bồi thường thì chuyện giúp đỡ các cựu quân nhân gốc Việt bị nhiễm Chất Da Cam/dioxin mới chỉ ở bước đầu: vận động.
Năm 2001, người ta thấy một bài viết trên báo Văn Nghệ Tiền Phong trong đó tác giả Đào Thạch Bích nêu câu hỏi về việc “… có nên tiếp tay vận động xin cho cựu chiến binh VNCH cũng được hưởng tiền bồi hoàn thiệt hại hay không.” Nhưng rồi dự án ngưng ở đó và rơi vào quên lãng - một phần cũng vì sự nhậy cảm gây nhiều tranh cãi của chuyện Da Cam. Ngay cả khi đoàn Việt Nam sang dự phiên tòa ở New York cũng bị đồng hương gốc Việt biểu tình chống đối. Những bài báo chỉ trích nhà nước Hà Nội lợi dụng chiến dịch Da Cam để mưu cầu tiền bạc, đánh lừa dư luận cũng như vu khống, mỵ dân tràn đầy trên mạng Internet.
Theo Giáo Sư Nhàn có thể nạn nhân Mỹ gốc Việt cũng không biết mình đang bị nhiễm chất dioxin: Ông giải thích:
“Theo tôi, các cuộc vận động về hậu quả của Chất Da Cam phải làm rõ và giúp nạn nhân thấu hiểu là họ bị nhiễm chất độc hại. Thông thường, nạn nhân của các độc tố ít khi biết mình nhiễm độc trừ phi có bác sĩ chuyên môn cho biết. Trước hết người Mỹ gốc Việt, nếu có thân nhân ở Việt Nam bị nhiễm, hay đã ở trong những vùng bị rải từ 1961-1971, nên đi khám bệnh và xem mình có bị một trong số 14 bệnh không.”
Ông Nhàn nhắc lại vào năm 2002 trước khi Tổng Thống Bill Clinton công du Việt Nam, một số người Việt đã thảo thư đề nghị ông không quên người Mỹ gốc Việt bị nhiễm Chất Da Cam, và đề nghị kiểm bệnh cho toàn thể cộng đồng người Việt tại Mỹ. Tuy nhiên, thư này không được toàn thể nhất trí, có người cho rằng thư này có lợi cho cộng sản, và vấn đề này đã bị xếp lại.

Khi hỏi vị giáo sư của đại học New York University rằng tại Mỹ có nạn nhân gốc Việt thực sự bị phơi nhiễm Da Cam/dioxin không, ông khẳng định là có:
“Trong những chuyến đi nhiều thành phố tại Mỹ với nạn nhân Da Cam Việt Nam, chúng tôi đã gặp nạn nhân người Mỹ gốc Việt và cả con cháu.  Phim “Agent Orange: 30 Years Later” của John Trịnh có phỏng vấn nạn nhân người Mỹ gốc Việt, là cựu chiến binh VNCH. Trong một nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng người Việt tại Quận Bronx, do bệnh viện Đại Học New York tổ chức, chuyên viên thống kê phát hiện ba dạng bệnh có nhiều nhất trong cộng đồng, ba bệnh ấy nằm trong 14 bệnh được Bộ Cựu Chiến Binh Mỹ công nhận có gốc từ Chất Da Cam.”
Cũng vậy khi ra điều tại Quốc Hội Mỹ hồi mới đây, Bác Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, thành viên của Nhóm Đối Thoại và cũng là đại diện cho Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam/Dioxin Việt Nam kêu gọi đừng bỏ quên những công dân Mỹ gốc Việt. Bà nói rằng một số trong hơn một triệu người trong cộng đồng Việt tại Mỹ đang đau khổ vì ảnh hưởng của Chất Da Cam và rất cần sự chăm sóc y tế.

Sau cùng để mọi người ý thức hơn nữa tầm nghiêm trọng của vấn đề này, Tiến Sĩ Ngô Thanh Nhàn kêu gọi mọi người hãy cùng nhau lên tiếng:
“Chúng tôi đang kêu gọi ký tên vào thư gửi Quốc Hội Mỹ, ủng hộ việc thông qua dự luật tổng thể chữa trị cho mọi nạn nhân Da Cam. Xin mời tham gia ký tên tại địa chỉ http://www.vn-agentorange.org/postcard_sign.php.”

Wednesday, September 22, 2010

Ăn Mặn – Khát Nước

Ngọc Thụy





Biết rằng ăn mặn sẽ khát nhưng vì thói quen, vì sở thích người ta vẫn tiếp tục ăn mặn và không phải cha ăn mạn con mới khát như thường nói mà ngay chính bản thân bị khát do … các biến chứng của tim. Nghiên cứu y học mới nhất của đại học University of California ở San Francisco nói rằng chỉ cần hàng ngày giảm mức tiêu thụ muối – khoảng hơn muỗng cà-phê, sẽ ngăn được 66,000 ca đột quỵ (stroke), 99,000 ca nhồi máu cơ tim (heart attack) và 92,000 ca tử vong trong một năm tại Hoa Kỳ. Đồng thời cũng tiết kiệm được 24 tỉ đô-la chi phí chữa trị.
Theo tác giả cuộc điều tra, người tiêu thụ có mối quan tâm đến thực phẩm và dinh dưỡng thường để ý xem nhãn hiệu trên bao bì và cân nhắc về lượng calorie hay mỡ trans fat (không bão hòa) trong món ăn mà không để ý đến lượng muối hay đường. Bằng sơ đồ thực hiện trên máy vi tính, các khoa học gia có thể ước tính hệ quả của bệnh tim mạch tác hại trên người tuổi từ 35 đến 84 và gợi ý rằng chỉ cần giảm ăn 1 gram muối mỗi ngày trong 10 năm sắp tới sẽ hiệu quả và rẻ hơn trị bệnh cao huyết áp bằng loại thuốc rẻ tiền nhất.
Nhằm tránh tình trạng béo phì ngày một gia tăng và giảm bớt các bệnh về tim mạch có nguồn gốc từ muối, tổ chức Y Tế Quốc Tế WHO, cơ quan USDA Mỹ đều khuyến cáo người dân bớt ăn đường và muối. Về lượng đường, tiêu chuẩn lý tưởng là không quá 40 gram/ngày – đây là lượng đường ăn thêm (có trong nuớc ngọt, bánh, kẹo) khác với đường có sẵn trong gạo, trái cây… Về muối có trọng lượng chuẩn là 5 grams/ngày (WHO), 5.8 grams/ngày (USDA).


Thật ra muối không chỉ tác hại đến tim mạch mà còn ảnh hưởng đến nhiều bộ phận khác trong cơ thể. Giáo Sư Franz Messerli, giám đốc chương trình nghiên cứu bệnh huyết áp cao tại bệnh viện St. Luke’s Roosevelt Hospital nhấn mạnh rằng giảm ăn mặn mang lại nhiều lợi ích. Ông nói: “Vì giảm lượng muối tiêu thụ có tác động trực tiếp đến tim, não bộ, thận và cũng giảm khả năng bị ung thư bao tử và loãng xương.”
Với người Mỹ trung bình, vấn đề giảm bớt muối là điều khó thực hiện khi các loại thực phẩm biến chế từ nhà máy hay thực phẩm bán tại nhà hàng ăn đều được nêm nếm hơi quá … mặn mà. Tài liệu cho thấy từ 75 đến 80% muối đều từ thực phẩm chế biến mà ra và lượng muối tiêu thụ hàng ngày từ 10.4 gram/ngày (nam) đến 7.3 gram/ngay (nữ) và ngày càng tăng nhiều hơn. Vì vậy nhiều công ty thực phẩm đã bắt đầu kế hoạch giảm bớt muối và đường trong sản phẩm đưa ra thị trường.
Công ty PepsiCo. Inc. dự kiến thương vụ các loại thực phẩm lành sẽ tăng gấp ba trong thời gian sắp tới, đồng thời cũng bắt đầu điều chỉnh nguyên liệu trong thực phẩm chế biến như:
Đến năm 2015, giảm bớt 25% muối/phần ăn trong các mặt hàng chủ lực; đến 2020 giảm 25% đường trong nước giải khát; giảm trung bình 15% chất béo saturated trong thực phẩm; và tăng các mặt hàng làm bằng hạt whole grain, rau quả, trái cây, các loại hạt. Pespsi dự kiến mở rộng khâu sản xuất các thương hiệu lành như Quaker, nước uống Naked juice, Tropicana, trà Tazo … và nghiên cứu các loại đường có tỉ lệ calorie thấp hoặc không tạo ra calorie, cũng như các loại muối không hại. Pepsi sẽ ngưng bán nước giải khát có đường full-sugar tại các trường học toàn thế giới kể từ 2012. Công ty thực phẩm chế biến khổng lồ Kraft cho biết cũng sẽ giảm 10% muối trong các mặt hàng bán tại Bắc Mỹ trong vòng hai năm tới. Còn tại căn cứ tiền tuyến của quân đội Mỹ ở Kandahar, Afghanistan, lệnh mới ban hành buộc các tiệm bán thức ăn nhanh như Burger King, Pizza Hut, Dairy Queen và T.G.I.F. trong khu dân sinh Boardwalk phải đóng cửa, nêu lý do việc chuyển vận thực phẩm cho hệ thống quán ăn này gây trở ngại không ít cho việc không vận quân khí cụ ra chiến trường.

Monday, September 20, 2010

35 Years After War's End, Vietnamese Diaspora Finds Its Way Home

Andrew Lam

Nguyen Qui Duc, a Vietnamese refugee who became an American radio host and the author of the memoir Where the Ashes Are, has found yet another incarnation in his mid-50s: Bar owner and art curator in Hanoi, Vietnam. Why would he come back to the country from which he once fled? “Home is where there’s a sense of connection, of family, of community,” he said after struggling to find a single answer. “And I found it here.”
But Duc is not alone. Every year, nearly 500,000 Viet Kieu—Vietnamese living overseas—return to Vietnam, many only to visit relatives, but others increasingly to work, invest and retire. The majority of them are from the United States, where the largest Vietnamese immigrant population resides. Indeed, 35 years after the Vietnam War ended, the Vietnamese Diaspora is now falling slowly, but surely, back into Vietnam’s orbit.

Not long ago, a Vietnamese living abroad had little more than nostalgic memories to keep cultural ties alive. During the Cold War, letters from the United States could take half a year to reach Vietnam. But 15 years after the United States normalized diplomatic ties with Vietnam, and three years after Vietnam joined the World Trade Organization, Hanoi is but an 18-hour flight from Los Angeles, and Vietnamese thousands of miles apart chat online, talk on Skype, and text or call each other on the cell phone. Tourism from Vietnam to the United States is increasingly common. Hanoi is even considering granting dual citizenship to the Viet Kieu to encourage further repatriation.
Duc, like many Vietnamese overseas, is playing an important role in Vietnam’s economic and cultural life. In 2008, despite the global economic slowdown, Vietnam received more than $7 billion in remittances from immigrants living abroad, according to news reports.
That same year, the country’s Chamber of Commerce reported some $5 billion in pledges by international donors for official development assistance.

The Vietnamese government has credited the Diaspora with reducing poverty and spurring economic development. “But the overseas influence on Vietnam is for more than just remittances,” said Duy Tran, a Viet Kieu businessman visiting from Los Angeles.
Tran said he fled as a boat person in the late 70s because his cousin sent home photos of her new life in America showing sports cars and high-rise buildings and wealthy Vietnamese Americans. “I followed her footsteps. I knew if she could become successful, so could I.”
Vuot bien, the Vietnamese phrase meaning to escape or to cross the border, became a household word in the 1980s, Tran said. “Everyone wanted to vuot bien and come to America.” Now? “Now,” he said, laughing, “I’m back to invest in real estate.”
The irony is that in the 21st century, many are looking at Vietnam as the next big investment opportunity. Vietnam has the second-fastest-growing economy in Asia, after China. It ranks 20th in thew world in terns of Internet access.

Victor Luu, who fled Vietnam a day before Saigon (now Ho Chi Minh City) fell to communist tanks on April 30, 1975, has become a successful software engineer who participated in several start-ups in California’s Silicon Valley. In 2006, he returned to his hometown and founded Siglaz, a software company with more than 50 employees. In his new office in a tall building in an area near the airport called E-Town, Luu could see the runway from which his plane full of panicked refugees took off 35 years ago. Of his workers, he said, “They are very quick learners, and they have a lot of Ph.Ds. [Many] went to Russia to study, and came back with very high degrees in math [and] artificial intelligence. These are the people [who] end up in our company.”
“I fully believe in Vietnam,” he added. “The future is here. And I want to help it happen.”

Diep Vuong, a cum laude graduate of Harvard University with a degree in economics, left Vietnam as a boat person in 1979, but came back five years ago to help fight human trafficking in her home province, An Giang in the Mekong Delta. “I always remember my mother saying to us that we were born Vietnamese for a reason, and it is up to us to figure out what that reason is,” she said.
As the rich-poor gap in Vietnam has widened with the growth of the economy, human trafficking has become a scourge. Vuong’s programs are part of the Pacific Links Foundation’s effort to empower young women, providing education, skills training, scholarships and shelter to those at risk. “Increasingly, Vietnamese Americans are playing central roles in the philanthropy sector,” she said. “As for me, I can’t just sit and do nothing. Any of those girls being sold to Cambodia or China could be a cousin or a child of an old friend.”

There’s another form of Viet Kieu contribution that is not so tangible, but arguably just as important. Nguyen Qui Duc’s bar, Tadioto, a narrow, three-story “tube” house on Trieu Viet Vuong Street in Hanoi, has become a gathering place for artists, writers and intellectuals—expatriates and locals alike. Avant garde pieces hang on walls or stand in the middle of rooms, including a green mannequin lying in an open glass coffin reminiscent of Ho Chi Minh’s mausoleum. “I think I am pushing some envelopes. I am talking about issues that are generally not talked about.”
Visitors to Tadioto include ambassadors, human rights workers, and other members of the diplomatic communities. “Public space is not yet what it should be in Vietnam,” Duc added. “I’m aiming to change that—to bring real dialogue between different people.”


Andrew Lam is editor of New America Media and author of "East Eats West: Writing in Two Hemispheres."  Check here for his speaking events in the west coast.