Saturday, May 7, 2011

Đại Lãn Bỏ Súng Cầm Chảo

Đức Hà

Ông sinh ra tại Nam Định, vào Nam năm 1954 bằng máy bay Pháp. Nhập ngũ khóa 26 Thủ Đức, ông phục vụ dưới cờ từ vùng cao nguyên của Quân Đoàn II đến vùng đồng bằng Quân Đoàn IV và lên đến chức đại đội trưởng tác chiến. Đời quân ngũ đến đó chấm dứt vì năm 1974, do bệnh ông được phân loại Ba - tức loại khỏi quân đội, chuẩn bị giải ngũ. Nhưng không may cho ông; công văn chính thức của Bộ Tổng Tham Mưu cho giải ngũ chưa có trong tay nên ông vẫn thuộc thành phần phải đi cải tạo để trở thành “người tốt” trong chế độ mới – cho dù ngày 22 tháng Tư, 1975 ông đã lên máy bay Air America để chuẩn bị bay ra Phú Quốc. Gia đình ông leo lên máy bay xong lại leo xuống để ở lại với mẹ già. Số ông thuộc dạng tiền hung hậu kiết.
Vì lý do này, tại nguyên nhân kia nên mãi cho đến khi học xong khóa bổ túc nghiệp vụ - mà tất cả quân nhân chế độ Sài Gòn còn ở lại đều phải tuân hành, ông mới HO5 sang Mỹ vào tháng Mười Một, 1990. Và cũng như dạo 54’ ông lại lên máy bay, cầm theo thẻ IOM đi chính thức. Tóm lại là cho đến khi đặt chân lên vùng đất mới, sự nghiệp của ông tóm gọn hai con số 10: 10 năm lính và 10 năm tù - chấm hết.

“Tất cả đều là định mệnh, không thể tránh được,” ông tâm sự và nói thêm về cuộc chuyển nghề “Tôi bỏ súng để sang đây cầm … chảo.” 
Tuy sang Mỹ trễ nhưng chưa hẳn là xấu đối với riêng ông.
Sau biến cố 30 tháng Tư năm đó, có người lên tàu theo tàu ra khơi và đến đất Mỹ đặt chân lên đất Mỹ nhưng lại xuống tàu trở về nước thì cũng có người lên máy bay nhưng lại không bay đi mà về lại nhà như nhân vật quê Nam Định nêu trên. Rồi ra một số cũng lại qua được Mỹ để rơi vào hoàn cảnh muộn màng cả về sự nghiệp lẫn công danh. Nhưng cũng không ít người thành công tột bực cho dù đến trễ như trường hợp khác biệt đầy lý thú của một lính tác chiến đã đổi đời thành một đại lãn thơ.

Tên đầy đủ của ông: Nguyễn Thượng Dực biệt hiệu “Đại Lãn Thơ Phở.” Nếu ai chưa biết tên thật hay biệt danh của ông thì cũng phải biết tiếng Phở Bình – từng được xếp hạng danh bất hư truyền ở Sunnyvale dạo nào. Ông là bếp chính, bếp trưởng, là hoạt náo viên, phát ngôn viên, nhà thơ, người điều khiển chương trình, người quản lí với quần áo quanh năm xộc xệch cẩu thả, lê đôi dép lẹt đẹt, cằm lún phún lơ thơ chùm râu bạc… của Phở Bình tại góc Lawrence Expressway và Persian Drive. Với những người biết chuyện thì Phở Bình không chỉ là phở mà còn là nơi thi văn tao ngộ của giới văn nghệ sĩ hoặc giới chỉ độc có máu văn nghệ ở Thung Lũng Hoa Vàng. Bởi thế đại lãn mới “lẽo mép” thơ rằng:
“Ra đường ăn phở thấy ngon,
Về nhà biết dại ôm con vợ già,
Bây giờ kiếm tiền chẳng lo, phở thì không có
Cơm nhà lại ngon.”

Phở Bình & Sĩ Phú

Tại Houston, Seattle, cũng có Phở Bình nhưng chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên vì Bình ở Sunnyvale theo lời ông Dực chính là tên cô em gái của ông. Ông kể:
“Để có phương tiện kiếm cơm cho anh em trong nhà từ Việt Nam sang, cô em cho mở tiệm phở lấy tên Phở Bình từ thập niêm 90’. Đơn giản chỉ có vậy.”
Ông Dực cho hay lúc bấy giờ tuy gọi là phở nhưng là “phở giả” vì chỉ nấu cho có chứ thực sự không ai trong bếp biết nấu phở cho đúng hương vị phở Bắc. Phở Bình chỉ đạt thành công sau khi có sự góp sức bằng nghiên cứu và tài nêm nếm của ca sĩ Sĩ Phú.
“Sĩ Phú chính là thầy của Phở Bình. Tôi nhớ mãi hôm đó khi ông Phú đến ăn và khen nước dùng ngọt thì có ngọt thật nhưng không phải là nước phở vì không có vị phở. Không có vị phở, thì chỉ là canh mà thôi,” ông nói.
Phải đến nhiều tháng sau, nghiên cứu hàng chục công thức, thay đổi thêm bớt gia vị, cân nhắc từng chi tiết nguyên liệu kể cả nếm công thức phở của các tiệm khác thì tô phở Bình mới đạt đúng yêu cầu cả về lượng và phẩm để sau đó được lên báo Mỹ.
Phóng viên Ben Marks, nguyên là bếp trưởng nhà hàng, viết trên báo SF Chronicle năm 1998:
“… Ngắt mươi lá húng quế vào tô phở, cho thêm nhúm giá sống, vắt miếng chanh và xịt một hai miếng tương ớt thường được để ngay trên bàn. Kết quả là bạn có một tổng hợp hương vị dữ dội của nóng và lạnh, của ngọt và chua. Đũa và muỗng giúp bạn không bỏ sót giọt nước dùng nào. Riêng tôi thì từng được người ta biết là đã dùng cả ông hút để vét sạch tô…”
Từ đó không chỉ các kỹ sư gốc Á của các hãng 3Com hay Cisco Systems gần đó đến xếp hàng dài vào giờ trưa mà cả người Mỹ người Việt từ xa kéo đến.
Ông Dực sung sướng thổ lộ: “Thế là như diều gặp gió bốc cao, danh tiếng Phở Bình cũng vậy. Từ phở giả nay đã thành phở thiệt.”
Hỏi ông thế nào là phở ngon. Ông giải thích:
 “Phở phải thơm mùi phở, không nghiêng nặng mùi hồi, mùi quế chi, gừng, hạt ngò, củ cải, hành tây nướng … vì nếu có vị khác thì đích thực là phở giả; gia vị chỉ dùng để đánh hết cái hoi của bò nhưng mùi hương của bò phải giữ. Rất nhiều người mắc sai lầm là cho quá nhiều gia vị hay hầm xương quá lâu.”
Tuy nhiên theo ông Dực, chính yếu thực phẩm phải đều tay vì khách hàng rất sợ hôm được ăn ngon, hôm bị cho ăn dở. Bột ngọt đương nhiên phải có nhưng vừa đủ vì xương bò ở Mỹ đâu có thiếu và phụ thêm chút bột ngọt sẽ tăng thêm độ ngọt của bò.
Khách sành điệu có chút quen biết với đại lãn nhà ta mà đến với Phở Bình thường kín đáo kêu tô “Sĩ Phú” hay tô “Nhà Bếp” - không được liệt kê trong bản thực đơn, nhưng lại là tô chất lượng nhất vì đầu bếp Dực đích thân chọn miếng thịt nào ngon nhất, tuyệt nhất.
Nếu kinh nghiệm sành ăn của Sĩ Phú đã giúp Phở Bình vươn đến đỉnh cao thì khi chính ông và người tình cùng mở một nhà hàng ở Nam Cali với mục đích vừa có chỗ ăn vừa kiếm tiền và tiếp đón bạn bè, lại không thành công.
Phê bình món phở do chính mình giúp sáng tạo nên, và sau khi nếm phở khắp nơi kể cả phở trong nước, nam ca sĩ tài hoa qua đời vì bạo bệnh ở tuổi 58 nói rằng “chưa có phở nào qua mặt nổi phở Bình.”
Riêng với ông Dực thì phở Mỹ đứng số Một vì “bò Mỹ quá sức ngon, tái ở Mỹ rất mềm còn xương và gầu thì quá dư thừa và rẻ để nấu thành nồi nước lèo tuyệt chiêu.”

Từ Bình Đến Minh

Khi ông Dực rút khỏi vai trò quản lí để hưu trí và nhường cho mấy em cuối cùng từ Việt Nam sang tiếp quản, thì Phở Bình cũng từ từ đi xuống. Ông phàn nàn:
“Các em tôi không biết tiếp khách lại nghe người này người kia và thay đổi công thức nấu nên chất lượng có giảm sút.”
Ông cho hay không hẳn là dạo đó là mất hết khách nhưng có thể còn nhiều lý do riêng tư khác mà mấy em ông quyết định bỏ nghề nhà hàng và rao bán tiệm.
Thế nên thực khác nào chưa được nếm thử món phở tái, nạm, gầu, gân, sách, chín tại Phở Bình thì coi như đã quá muộn màng. Âm thầm khai trương và 15 năm sau cũng âm thầm đóng cửa, Phở Bình theo lời ông Dực nay đã đổi chủ. Tên mới sẽ là Minh – cùng gốc với Minh Milpitas.
“Cũng là định mệnh cả, nhưng buồn lắm khi mất đi một tác phẩm, một công trình do chính tay mình xây dựng nên,” ông nói, giọng chùng hẳn xuống trên khuôn mặt đầy nếp nhăn.

 Nghe, nhìn Đại Lãn biểu diễn nấu phở tại ĐÂY

Friday, May 6, 2011

Tôi Hành Nghề Thú Y


Nguyễn Tuấn
http://visontmc.com/NguyenTuan_p2.html
                                                                                                 
Năm 1978, sau khi “đi tì” về, tôi được làm việc lại tại nhiệm sở cũ.  Thế là không phải lo lắng về vấn đề hộ khẩu nghĩa là được sinh sống tại Sài Gòn, khỏi phải đi vùng kinh tế mới xa xôi.  Nhưng với đồng lương chết đói lúc bấy giờ làm sao phụ với vợ để nuôi mấy đứa con? Phải “xoay” thôi!

Tâm sự niềm lo lắng này với bạn bè, có bạn đưa ý kiến: “Anh có nhà mặt tiền, sao không kiếm cách buôn bán? Mở cửa hàng thì không được vì anh phải đi làm, chỉ có cách là kiếm cái xe bánh mì bán ngay trước cửa vào buổì chiều và tối thôi.”  Nghe thấy có lý, tôi bèn bàn với “nội tướng.” Nàng OK liền! Thế là vài ngày sau tôi đã “cải tiến” cái tủ nhỏ đựng bát đĩa trong nhà thành... tủ bán bánh mì. Sau đó là tìm mối để mua pa-tê, thịt, bánh mì v.v… Xe bánh mì được khai trương vào một buổi chiều cuối tuần. Mới đầu bà con lối xóm mua ủng hộ nhiều nên bán được và ngồi bán hàng nhìn ông đi qua bà đi lại cũng thấy vui vui.  Nhưng một thời gian ngắn sau bán chẳng được bao nhiêu, cứ phải ăn bánh mì ế hoài phát ớn nên cuối cùng … dẹp tiệm.
Sau nhiều đêm nằm vắt tay lên trán suy nghĩ bỗng một hôm tôi nhớ câu các cụ thường nói “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” rồi tự hỏi: mình biết về thú y, sao không sống bằng nghề này? Thế là tôi tìm cách hành nghề thú y. Lần này, trước khi thực hiện ý định hành nghề, tôi tìm đến một thầy tử vi và cũng bạn thân cùng lớp. Thầy phán rằng: Mày mệnh thủy thì phải kiếm một việc gì liên quan đến kim loại mới khá được, kim sinh thủy mà!  À! thế thì được, có gì khó! Tôi bèn sắm một ống chích có vỏ bọc bằng inox mới tinh, một bộ kim mới và hộp đựng kim chích cũng bằng inox. Hôm sau tôi tìm trong đám sách báo nông nghiệp cũ hình một con heo mập mạp dễ thương. Cắt con heo giấy ấy dán vào một tấm tôn nhỏ, thêm một hình chữ thập xanh kèm theo hàng chũ Bác sĩ Thú Y nho nhỏ ở phía dưới  rồi treo tấm bảng ấy ngay vào chỗ trước đây là bảng luật sư của bà xã.

Hôm sau khi đạp xe đi làm về tôi thấy một người lạ ngồi ở trước cửa.  Vừa xuống xe định dắt vào nhà thì ông ấy hỏi ngay:
- Ông là bác sĩ thú y ?
- Vâng.
- May quá! Tôi đi ngang đây thấy bảng thú y nên ngồi chờ gặp ông.  Tôi có đàn heo bị bệnh nên nhờ ông chữa giùm.                                                                                                                       
Tôi vội vào nhà xách túi đồ nghề và theo ông ấy đến khu Ngã Ba Ông Tạ. Đến nơi thì  cảnh tượng não nùng hiện ra: một heo nái và bầy heo con nằm xuội lơ, phân lỏng màu xanh như xi măng vung vãi tứ tung, chân cố dãy dụa mà không đứng dậy  được. Để biết thêm về tình trạng đàn heo, tôi hỏi ông chủ?
- Bác có chích ngừa gì cho bầy heo này chưa bác?
- Tôi chích ngừa đủ thứ rồi mà nó vẫn bệnh!
Tôi quan sát kỹ hơn, thấy trên da có lấm tấm xuất huyết và lại thấy có dấu chích ở cổ.  Đo nhiệt độ thấy sốt. Những triệu chứng trên là điển hình của hog cholera rồi chứ còn gì nữa!   Chẳng lẽ mới “ra quân” lần đầu đã bị ngay cái bệnh virus bất trị này! Thấy tôi tần ngần, ông chủ gợi ý:
- Ông cố chữa, tốn kém bao nhiêu tôi cũng xin trả miễn là cứu được bầy heo. Mời ông dùng nước đã.
Chờ ông chủ vào khuất trong nhà lấy nước tôi quay sang hỏi đứa bé vẫn đứng ở đây nãy giờ:
- Mấy hôm nay cháu có thấy ai đến chích heo không cháu?
- Có bác ạ. Chích hai ba lần rồi.
Khi ông chủ trở ra tôi quyết định dứt khoát giải pháp tốt đẹp nhất cho ông ấy:
- Nên “thanh toán” đám heo này càng nhanh càng tốt bác ạ. Để không có lợi, chữa chạy thì tốn kém mà hầu như không thể khỏi được.
Nói xong tôi chào ông rồi ra về. Ông chủ có vẻ không bằng lòng. Tôi về mà lòng trùng xuống, buồn rười rượi. Buồn vì mới hành nghề lần đầu đã gặp khó khăn; vừa không có tiền, vừa làm thân chủ không vui.
Hôm sau đi làm về tôi mong có người ngồi chờ trước cửa để nhờ đi chữa bệnh nhưng chẳng có ai. Vừa dựng xe vào nhà thì bà xã nói ngay:
- Lúc nãy có ông nào đến nhờ anh chữa chó. Ông ấy để địa chỉ đây này. 
Tôi liếc qua địa chỉ: khu trường đua Phú Thọ. Tôi ăn vội bát cơm để có sức đạp tiếp đến trường đua. Khi đến đúng địa chỉ thì thấy đây là một ngôi nhà khang trang, có cây cảnh trong sân chứng tỏ trước kia chủ nhân tương đối khá giả. Sau khi ngồi vào sa lông nói chuyện vài câu xã giao, chủ nhà vào đề:
- Tôi có con chó nuôi đã lâu, cả nhà ai cũng thích. Tự nhiên nó không nhìn thấy gì ông ạ. Nhờ ông chữa, tốn kém bao nhiêu cũng đuợc, ông đừng ngại.
Tôi quan sát toàn thân con chó. Nó vẫn khỏe mạnh, lông mướt, riêng cặp mắt thì xanh lè, không có hồn. Tôi soi đèn pin để thấy rõ hơn đồng thời ôn lại sách vở trong trí nhớ thật nhanh. Chắc là bệnh blue eyes. Mà bệnh này cũng do cực vi trùng (virus) gây ra tựa như hog cholera! Tôi chích cho con vật vài mũi thuốc bổ rồi về. Vừa vào đến nhà tôi lật ngay cuốn bệnh lý dày cộp ra coi lại. Đúng là blue eyes disease rồi! Sách còn nói rõ là có vài chục phần trăm trường hợp bệnh tự nhiên khỏi nếu con vật có dinh dưỡng tốt. Tôi thầm mong con chó ở Phú Thọ nằm trong số ấy. Vài ngày sau tôi trở lại. Vừa thấy chủ nhân tươi cười ra mở cửa tôi đã đoán là có tin vui. Quả nhiên ông ấy nói:
- Ông chữa hay quá! Con Quýt bây giờ đã biết nhìn theo hướng tay tôi giơ lên.
Thế là tôi lại tiếp tục cách chữa “supportive treatment” và hai tuần sau thì con chó khỏi hẳn. Lần chót đến chữa, chủ nhân mời tôi dùng trà loại đặc biệt từ ngoài Bắc mang vào và trả thù lao rất hậu. Tôi mang tiền về cho bà xã mà lòng vui như mở hội.

Thế rồi từ đó tôi có khách lai rai. Có lần một cô gái nhờ chữa cho con heo nái. Tôi ngạc nhiên khi leo lên đến lầu ba của một ngôi nhà bề thế ngay mặt đường mà vẫn không thấy heo đâu! Cuối cùng thì cũng thấy con heo đang bệnh: nó nằm trong một gian phòng lát gạch bông ở lầu tư! Chắc là chủ nhà đã nuôi heo theo yêu cầu của phường khóm để gia tăng sản xuất. Con heo nái to đùng nằm im lìm trên nền gạch hoa. Tôi lấy bó rau muống thẩy trước mặt nó, nó dửng dưng coi như không thấy. Tôi dùng cái gậy nhỏ chọc vào đít nó, nó phản ứng yếu ớt, chỉ kêu ủn ỉn, không thèm đứng dậy. Đo nhiệt độ thấy sốt cao, không tiêu chảy, không xuất huyết. Chưa biết là bệnh gì! Tôi lại dùng bửu bối thông thường: PenStrep liều cao. Có lẽ heo bây giờ ít được dùng trụ sinh nên khi đưa trụ sinh vào là hiệu quả thấy rõ. Chẳng thế mà hôm sau tôi đến thẩy bó rau vào là nó đã cố gắng đứng dậy ăn.  Chích ba lần là nó khỏi hẳn. Thuốc trụ sinh lúc bấy giờ khó kiếm nên có bao nhiêu trụ sinh hết hạn xử dụng của ông bác sĩ anh ruột bà xã tôi đều “thầu” hết.  Thuốc Mỹ tốt thiệt! Quá date cả hai năm mà dùng vẫn hiệu quả như thường. Chả thế mà khi tôi còn bị tù cải tạo trong khám Chí Hoà, quản giáo nói rõ rằng ai nộp thuốc của Mỹ hoặc Pháp mới được chuyển thư về cho gia đình. Thuốc của phe xã hội chủ nghĩa thì quản giáo chê!

Vẫn biết rằng “bá nhân bá tánh,” có người khách sáo, có nguời ruột để ngoài da, thế  nhưng tôi chưa thấy ai có tính “tự nhiên” như một bà trong khu đường rầy xe lửa cách nhà tôi không xa. Bà ấy có con heo nái mới hạ sinh được hơn chục heo con. Hai tuần sau thì cả bầy đi tiêu chảy. Bà ấy đến nhờ tôi chữa. Ngay hôm đầu bà ấy nói rằng khi nào chữa xong thì bà ấy trả tiền một thể. Hôm cuối trước khi về tôi cố ý thu xếp đồ nghề một cách chậm chạp để chờ bà ấy trả tiền. Không thấy bà ấy động tĩnh gì mà tôi thì không có can đảm hỏi tiền thù lao! Thu xếp xong tôi chào bà ấy và lên xe đạp về. Bà ấy nói khẽ “chào thầy”, rồi... thôi! Mấy tuần sau tình cờ gặp bà ấy, tôi hỏi thăm sức khoẻ đàn heo.  Bà ấy nhanh nhảu dáp: “Thầy chữa có mấy ngày là chúng khỏi ngay rồi mà. Thôi chào thầy nhé, tôi phải đi chợ đây!”  Tôi chợt vui và cười một mình vì biết chắc bầy heo đã khỏi bệnh và biết được một người  có tính tự nhiên hiếm thấy.
Có hôm đang mặc quần đùi may-ô ở trên lầu đọc báo thì ghe tiếng gõ cửa. Tôi ngạc nhiên vì hiếm có ai leo lên đây gõ cửa nên tôi chỉ mở hé cửa xem ai. Vừa thấy người đứng trước cửa là tôi sựng ngay lại và vội lắp bắp chào: “Thưa thầy!” Thì ra đây là vi giáo sư tiến sĩ dạy tôi ở Đại Học Khoa Học hồi xưa. Không hiểu sao ông ấy lại biết nhà tôi và lên tuốt trên lầu ba này gặp tôi. Để tôi khỏi ngạc nhiên, ông thầy nói ngay:
- Nhà tôi mới xuất ngoại để lại mấy con chó. Chẳng hiểu sao bây giờ mấy mẹ con chúng đều tiêu chảy ra máu. Tôi mang chúng đến đây để anh chữa nhé!
Tôi ngần ngại vì nhà tôi làm sao chứa được bầy chó này:
- Thưa thầy, thầy không phải mang chúng lại. Thầy cứ về trước, để em lại nhà thầy xem bệnh tình chúng ra sao đã.
Thế là tôi mặc quần áo, theo địa chỉ đến nhà ông thầy. Đây là khu gia cư khá sang trọng ở ngay trung tâm Sài Gòn. Trong garage có một chuồng chó: ba, bốn con chó con nằm xẹp lép, lông xơ xác, phân và lông lẫn máu tèm lem. Ông thầy tâm sự:
- Nhà tôi trước khi xuất ngoại cưng bầy chó này lắm và dặn tôi phải chăm sóc chúng kỹ lưỡng. Nay chẳng may chúng bị bịnh. Anh cố chữa, cứ dùng thuốc ngoại, nếu không kiếm được cho tôi biết.
Tôi khám kỹ mấy con chó. Ngoài bệnh về đường ruột chúng lại bi thêm ký sinh trùng ngoài da. Tôi cho chúng thuốc bổ dưỡng qua mạch máu và cho uống thuốc trị bệnh đường ruột. Rất may là sau một tuần trị liệu bầy chó hết tiêu chảy và phục hồi sức khoẻ dần. Sau đó, việc trị bệnh ký sinh trùng ngoài da không có gì khó khăn. Tưởng đâu thế là nhiệm vụ chữa trị đã xong, nhưng không phải. Ông thầy nói với tôi hôm chót tôi đến trông nom bầy chó:
- Anh thiến con chó mẹ giùm tôi. Tôi không muốn nó đẻ nữa.
Chà! Cái này rắc rối đây vì làm một mình không nổi. Sau khi liên lạc với ông bạn chuyên về giải phẫu và được nhận lời, tôi cùng ông bạn thiến con chó cái. Kết quả tốt đẹp.

Thế nhưng, chữ nhưng tai hại, không phải lần nào cũng được tốt đẹp như vậy. Có lần một học trò cũ tìm đến nhờ tôi chữa giùm một con bò đang hấp hối ở nơi vùng quê ngoại thành, khá xa. Tôi lấy xe gắn máy đi theo anh hoc trò. Đến nơi thì thấy một con bò bụng phình to như cái trống. Đúng là bệnh phình dạ chứa rồi!  Chẳng có trocard để chọc vào bỉm. Tôi bèn yêu cầu anh học trò chặt môt nhánh tre nhỏ rồi vạt nhọn và đâm thẳng vào dạ chứa với hy vọng hơi sẽ xì ra nhưng kết quả không như ý muốn: hơi chẳng ra bao nhiêu. Bụng con bò vẫn phình to, thở thoi thóp vì tim và phổi bị dồn ép. Chắc là các bọt khí nhỏ liên kết với nhau, ống tre không thể làm cho chúng xì ra dược, nếu có mineral oil để phá vỡ đám bọt này thì… may ra. Nhưng tìm đâu ra dầu này bây giờ! Thấy tôi đăm chiêu, anh học trò đề nghị:
- Em cho nó uống bia nghe thầy! Em uống bia thấy ợ hơi nhiều lắm.
Tôi chưa kịp trả lời thì anh anh học trò lại nói thêm:
- Em cho nó uống Alka Selzer nữa nghe thầy!
Tôi chẳng biết làm gì hơn nên ừ ào cho xong chuyện rồi nổ máy xe về trước. Vài ngay sau gặp lại anh học trò. Không thấy anh ấy nói gì về con bò này. Chắc là nó đã được hoá kiếp rồi!

Gặp Nạn

Các cụ thường nói làm nghề gì cũng có thể gặp tai nạn nghề nghiệp. Quả đúng thế. Tôi hành nghề này đã có lần gặp nạn. Hôm đó một cô khá xinh mang con mèo đến nhờ trị bệnh. Khám bệnh và cho thuốc đã xong nhưng cô áy cứ đứng sát tôi rồi kể lể đủ thứ chuyện. Tình cờ bà xã tôi đi ra và tỏ vẻ khó chịu. Tôi biết ý nên nói với cô ấy là lần sau cô không phải đem mèo tới, tôi sẽ đến chữa tận nhà. Chữa vài lần là con mèo khỏi bệnh.  Cô ấy trả công hậu hĩ.  Vài tuần sau cô ấy lại tới mang theo một con chó. Sau khi đặt con chó lên bàn và trước khi khám tôi hỏi về bệnh trạng con vật.  Cô ấy cố vạch cái... chỗ ấy ra và nói là nó có mủ. Tình cờ bà xã tôi lại đi ra và tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Sau khi khách về, nàng gọi tôi vào nhà và thỏ thẻ:
- Thôi anh ạ! Em thấy anh hành nghề này vất vả quá. Hay là anh tạm nghỉ để mình từ từ tính cách khác nhé.
Tôi lơ mơ hiểu vì sao và vì không muốn làm phật lòng nàng nên tôi gật đầu nhè nhẹ dù biết rằng mình đang  có nhiều khách và chữa trị tương đối mát tay. Thế là ngay hôm sau tôi hạ bảng Bác sĩ Thú Y xuống!
Hạ bảng hành nghề xuống rồi tôi lại nằm vắt tay lên trán suy nghĩ cách kiếm tiền khác.  Nghĩ mãi chẳng ra cách nào!  Bỗng một hôm đọc báo thấy có tin Viện Pasteur bán thuốc bổ chế từ men bia Saccharomyces cereviciae. Thuốc đựng trong hôp gồm hai vỉ, mỗi vỉ có khoảng chục ông thuốc. Tôi uống thử, thấy vị lạ. Kết quả ra sao thì chưa biết nhưng điều đó khiến tôi tôi nảy ra ý định chế thuốc bổ cho gia súc. Tôi đến nhà máy bia Sài Gòn mua một ít men về xem sao đồng thời tìm đọc các tài liệu, các công trình nghiên cứu về Saccharomyces cereviciae. Sau đó loay hoay thí nghiệm ở nhà để tìm cách áp dụng cho gia súc. Đối với gia súc mà dùng dưới dạng lỏng như Viện Pasteur dùng cho người thì không ổn rồi,  phải mò mẫm chuyển sang dạng đặc mới được. Tôi lấy ngay lò nướng bánh của bà xã ra để sấy sản phẩm cho khô khiến bà xã kêu trời vì lò này là cần câu cơm của nàng khi tôi còn trong  tù cải tạo. Cuối cùng tôi cũng chế được vài chục kí sản phẩm.
Có sản phẩm rồi , làm sao tiêu thụ? Tôi bèn chất bao sản phẩm lên xe Honda đi đến các trại gà, trại heo để giới thiệu và... bán! Đi lòng vòng qua nhiều trại mà không nơi nào nhận mua viện lý do là trại không có ngân khoản nhưng có lẽ lý do thực sự  là đặc chế này còn mới lạ quá,  nếu dùng không biết kết quả sẽ ra sao.
Lúc ấy tôi đang dạy học và cần có đề tài hướng dẫn sinh viên làm tiểu luận ra trường nên đã hướng dẫn một số sinh viên thực hiện vài đề tài nhằm xác định ảnh hưởng của men bia trong việc nâng cao sản lượng thịt & trứng ở gà và tăng trọng ở heo thịt. Vì là đề tài tốt nghiệp của sinh viên nên các trại chấp thuận ngay. Tuy nhiên có một trại heo muốn chắc ăn không bị lỗ do thí nhiệm nên đã yêu cầu ký hợp đồng minh định rằng nếu heo ở lô đối chứng có tăng trọng cao hơn lô thí nghiệm thì người hướng dẫn đề tài phải bồi thường cho trại sự chênh lệch, trong trường hợp ngược lại thì người chịu tránh nhiệm đề tài được hưởng. Tôi đồng ý ký ngay. Các thí nghiệm cho kết quả không ngờ: các lô thí nghiệm với khẩu phần thức ăn có bổ túc  men bia đã giúp heo tăng trọng cao hơn rõ rệt so với lô đối chứng dùng khẩu phần không có men bia.
Kết quả thí nghiệm này được một số trại biết đến và muốn dùng thử khiến nhu cầu về sản phẩm mới này càng ngày càng tăng. Cái lò nướng bánh bé tí của bà xã tôi không đủ để sấy men nữa. Tôi phải tới Ngã Tư Bảy Hiền nơi chuyên làm các lò sấy thuốc lào để nhờ họ cải biến ra một lò sấy lớn làm bằng tôn theo sơ đồ tôi vẽ sẵn. Tôi để lò xấy này trên sân thượng cho đuợc rộng rãi. 
Chế biến men với qui mô nhỏ thì dễ nhưng với qui mô lớn hơn thì nhiều vấn đề nảy sinh.  Việc mua men gặp khó khăn vì nhiều khi mình cần thì lại không có đủ và mỗi lần mua đều phải có giấy giới thiệu của cơ quan. Xay men ra cho mịn là cả một vấn đề vì ở nhà làm gì có máy xay. Nói mãi một chỗ chuyên xay bột gạo họ mới nhận xay sau khi  đã được bảo đảm là men không có hại gì cho sức khỏe cả. Môt trở ngại khác là không có đủ mặt bằng để phơi men trước khi cho vào lò sấy. Tôi đã liên lạc với lò bánh mì gần nhà  nhờ họ sấy thuê nhưng chỉ nhờ được vài ngày thì họ từ chối vì cái mùi men làm bay đi cái mùi thơm ngon của bánh mì. Ngoài ra, làm men rất dễ bị ông Trời gây căng thẳng!  Ông trời nắng to thì được nhờ, men khô nhanh. Mỗi khi thấy mây xám giăng giăng bầu trời là phải lo cất men cho lẹ kẻo mưa xuống thì men trôi theo nước, coi như công cốc, lỗ chổng cẳng. Có lần mưa đến nhanh quá, tôi phóng như bay lên sân thượng, chẳng may bị ngã cụp sương sống phải nằm bẹp ở nhà hơn hai tuần để ông bạn già hàng ngày đến bấm huyệt mới lết dậy nổi.  
Khi đi mua men và các chất phụ gia khác tôi phải thuê xe ba gác hoặc xe xích lô để chở.  Việc chuyên chở này khá nhiêu khê và vất vả.  Sài Gòn lúc bấy giờ có nhiều  đoạn đường cấm xe ba gác hoặc xe xích lô lưu thông. Vì thế nhiều khi phải đi lòng vòng rất mất công và còn phải tránh công an để đỡ bị gỡ xuống khám xét do xe chở cồng kềnh. Có lần tôi bị “đứng tim” vì đang đi sau xe xích lô chở hàng thì đột nhiên xe biến mất trong đám xe cộ đông nghẹt. Những tưởng phen này mất trắng thì không ngờ khi về gần đến nhà đã thấy ông già đạp xích lô đúng chờ tôi ở vệ đường. Ông ấy nói rằng khi thoáng thấy bóng công an ông ấy phải đi tránh ngay sang đường khác rồi đứng đây chờ tôi.  Ông ấy quả là người tốt bụng...
Chế biến men tuy rất khó nhọc nhưng tôi may mắn có bà bác lúc nào cũng giúp đõ tối đa nên công việc được tiến hành đều đặn. Mỗi buổi chiều đi làm về đến cách nhà vài trăm thước là đã thấy thoang thoảng trong không trung mùi men thơm phức và dịu ngọt như mùi sô cô la. Mỗi lần ngửi thấy mùi men như vậy là tôi chắc chắn mẻ men này sẽ thơm ngon lắm.
Một hôm đang ngồi làm việc ở văn phòng thì có một người lạ đến xin gặp. Nói lòng vòng một hồi thì hoá ra là anh ta muốn giới thiệu một sản phẩm mới rất tốt đùng để bổ túc trong khẩu phần nuôi gia súc. Khi mở ra xem thì tôi ngạc nhiên hết sức vì đúng là chế phẩm men do mình làm ra tuy đã được trộn thêm chất phụ gia để hạ giá thành. Vì thế tôi chỉ còn biết mỉm cười cám ơn.

Tàn Lụi

Việc chế biến men phát triển rất khả quan. Nhiều trại heo đặt mua, tôi sản xuất không kịp. Có người đề nghị tôi bán công thức chế biến, có người đề nghị hợp tác xản xuất để tiêu thụ bên Campuchia. Tôi chỉ mỉm cười cám ơn vì đây không phải là mục đích của tôi: tôi đã nộp đơn xin đi theo diện HO nên chỉ làm kiếm tiền cầm hơi chờ được ra đi.
Ở đời mọi sự đều không tránh khỏi quy luật “thành , trụ, hoại, không.”  Một sự việc hay một sự vật sinh ra, phát triển rồi sẽ có lúc phải tàn lụi. Chuyện làm men của tôi cũng không tránh khỏi qui luật ấy.  Công việc đang phát triển đều đặn thì một hôm viên công an khu vực đến xét nhà. Ông ấy đi suốt từ dưới nhà lên đến sân thượng. Tôi chẳng hiểu tại sao, chỉ biết đi theo ông ấy khắp nơi trong nhà. Cuối cùng ông ấy nói:
- Anh có làm gì khiến hàng xóm khiếu nại không?
- Tôi không biết họ khiếu nại tôi điều gì.
Viên công an coi hết các bao bì và thùng đựng trong nhà và hỏi đó là những thứ gì. Tôi trình bày rõ ràng từng thứ và xuất trình giấy tờ mua bán.
- Anh mua những thứ này làm gì?
- Tôi chế biến thức ăn gia súc để giúp bà con nuôi heo mau lớn theo  đúng yêu cầu của nhà nước nhằm tăng gia sản xuất.
- Tốt! Toàn là đồ ăn cho heo gà chứ có gì đâu!
Thế là thoát nạn! Tuần sau tôi được ông hàng xóm mời sang “nói chuyện phải trái.”  Tôi chưa biết là chuyện gì nhưng đoán là có liên quan đến việc công an xét nhà nên tôi sang ngay. Khi vào nhà tôi thấy mặt ông ta hầm hầm, chưa mời ngồi ông ta đã nói ngay:
- Tôi nghiện thuốc lá. Từ ngày ông nấu sô-cô-la bên đó hơi bay sang đây khiến tôi hút thuốc mất ngon! Cái mùi ấy át mất mùi thuốc thơm của tôi! Yêu cầu ông đừng để cái mùi ấy bay sang nhà tôi nữa! 
Thì ra là thế! Tôi tưởng đâu ông ấy vu cáo tôi buôn lậu. Ai dè! Tôi buồn cười nhưng không muốn làm mất lòng hàng xóm nên trả lời ông ta một cách nghiêm chỉnh:
- Vâng. Tôi sẽ cố gắng tối đa để mùi ấy không bay sang đây. Tôi sẽ bít các cửa sổ thông sang phía nhà ông.
Ngay hôm sau tôi thực hiện việc ấy. Vài ngày sau nữa, khi thoáng thấy tôi, ông ấy nói lớn tiếng để tôi nghe: Đồ trâu bò! Mặt tôi nóng bừng. Từ nhỏ tới giờ chưa ai nói nặng lời với tôi như vậy. Tuy nhiên tôi bình tĩnh lại ngay. Có lẽ cái mùi men vẫn bay sang nhà ông ấy.  Sau khi suy nghĩ kỹ và sau khi bàn bạc vời bà xã, tôi quyết định thôi không chế biến men nữa. Lý do chính không phải do ông hàng xóm mà là do nghe ngóng biết được rằng sắp đến lượt gia đình tôi được đi theo diện HO. Sau đó tôi bán cái lò nướng và chỉ giữ lại cái thùng to đùng - trước đây dùng trong việc thủy phân men - để bác tôi dùng làm nồi nấu bánh chưng.

Tuy tôi theo học ban B tức ban Toán nhưng trong suốt thời gian theo học tại trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, môn Vạn Vật và các thầy dạy môn này đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp. Bây giờ nhìn lại mới thấy các thầy đã ảnh hưởng đến mình rất nhiều. Các thầy dạy về sinh học đã cho tôi có được nhũng thú vị trong lãnh vực thực vật và động vật. Một lời phê tốt của thầy trong thông tín bạ có thể làm mình sướng mãi và có thể ảnh hưởng đến quyết định về nghề nghiệp của mình trong tương lai. Vì thích về sinh học nên sau khi đỗ tú tài tôi đã nộp đơn vào trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn, nơi mà tôi nghĩ rằng sẽ cho tôi nhiều thú vị trong lĩnh vực sinh học ứng dụng. Khi mới vào học Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc tôi không hình dung nổi sau này ra trường mình sẽ làm gì. Bây giờ tôi thấy rõ rằng chính cái nghề thú y này đã giúp tôi vượt qua được một giai đoạn rất khó khăn sau khi đi cải tạo về. Thời gian hành nghề này đã để lại trong tôi nhiêu kỷ niệm khó quên. Cuộc đời như một tấn tuồng, Giờ đây nơi xứ lạ quê người, nhìn lại quãng đời đã qua tôi thấy mình đóng vai hành nghề thú y không đến nỗi tệ. Vai trò ấy đã xong. Bây giờ tôi mơ đóng được vai liên hữu một cách xuất sắc để lúc giã từ cuộc đời được về an vui nơi cõi Tịnh Độ tiếp tục tu học… Mong lắm thay!

Thursday, May 5, 2011

An Lộc: Từ Địa Ngục Đến Anh Dũng

“Nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”
George J. Veith, tác giả cuốn “Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts During the Vietnam War.”

Đức Hà


Từ căn hộ tại lầu ba một chung cư hiền hòa yên bình ở Fremont, người ở có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn những hàng cây với tàn lá đổi màu theo ngày tháng, mùa hè xanh biếc, sang thu chuyển vàng rồi rụng rơi trải thảm khắp mặt đường khi đông tới. Đó là một nơi tuyệt vời để nghỉ hưu và an hưởng tuổi già sau những ngày tháng vật vã với cuộc sống và quên đi dư âm vang vọng của đại bác, chiến xa, khói lửa chiến tranh. Nhưng người ở lại là một cựu tướng, một người từng cầm quân chỉ huy thế nên tâm hồn ông, trái tim ông, suy nghĩ của ông luôn khắc khoải về đất nước mà ông đã phải bỏ lại cách nay hơn 30 năm.

“Tuy gặp may mắn hơn nhiều người Việt tỵ nạn khác khi đến định cư tại Mỹ - kể cả những người ngang cấp bậc, nhưng tôi vẫn thấy buồn. Buồn vì mất nước và buồn vì nhiều người phải vướng vào lao tù, bao nhiêu gia đình ly tán,” cựu tướng Lâm Quang Thi chia xẻ trong một buổi chiều cuối thu lạnh giá.
Gần 80 tuổi, người ông vẫn thẳng đứng, dáng mảnh khảnh, giọng nói lớn sang sảng như khi còn chỉ huy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I năm nào. Có thể chăng vì nỗi u sầu ẩn khuất đó, nên ít thấy ông cười, cho dù câu chuyện trao đổi đôi lúc cũng ra ngoài đề tài về địa ngục An Lộc.
“Trận An Lộc được xem là trận chiến lớn nhứt trong suốt cuộc chiến Việt Nam - mà Sir Robert Thompson, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Nixon từng mô tả là chiến thắng quân sự lớn nhứt của Thế Giới Tự Do chống lại Cộng Sản sau Thế Chiến II, thế mà chưa bao giờ được truyền thông Mỹ nhắc tới,” ông bày tỏ sự bực tức và khẳng định rằng nếu mất An Lộc năm 1972 thì chỉ 24 tiếng đồng hồ sau quân Bắc Việt - dùng An Lộc làm bàn đạp, sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể nữa.

Nếu chiến thắng An Lộc giúp miền Nam đứng vững thêm được ba năm nữa nhưng cũng là tiền đề cho sự xụp đổ hoàn toàn của Cộng Sản vài năm sau đó, theo lời tác giả Lâm Quang Thi. Ông giải thích:

“Đó là điều mà ít người nhận thấy. Họ (truyền thông Mỹ) chỉ đề cao những chiến thắng của người Mỹ, và sự thật về An Lộc chưa bao giờ được nhắc đến cho đến ngày hôm nay, trong cuốn sách này.”
Những trăn trở đó đã khiến vị tướng quê Bạc Liêu không tiếc thời gian, bỏ công sức hơn bốn năm dài để nghiên cứu thu thập tài liệu, sử liệu, phỏng vấn những chỉ huy mặt trận còn sống sót, tiếp xúc những quân nhân tham dự trận đánh, so sánh các tài liệu của hai phía Việt và Mỹ, kể cả tranh luận với các tác giả Mỹ để hoàn thành cuốn “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam.”
Khi góp ý rằng hồi ký chiến tranh của người Việt xuất bản rất nhiều, phần lớn thổi phồng cá nhân, tài liệu dựa vào trí nhớ hay viết nhằm mục đích riêng tư nào đó nên người đọc đôi khi cảm thấy chán ngán và nghi ngờ thì cuốn Hell in An Lộc được tác giả nhấn mạnh là hoàn toàn trung thực. Ông nói:
“Năm 1972 tôi làm Tư Lệnh tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương điều động ba sư đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn giữ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở phía bắc và không liên quan gì đến chiến sự tại Vùng III nơi diễn ra trận chiến An Lộc. Thế nên tôi tin rằng có cái nhìn chính xác hơn, khách quan hơn và chủ yếu không phải phóng đại hay tâng bốc bất cứ ai.”
Ông cho biết thêm rằng khi nhà xuất bản University of North Texas Press bằng lòng cho in, sau khi hội đồng biên tập tranh luận về tính xác thực của các tài liệu, các chứng cứ ghi trong bản thảo và chấp nhận những phản bác có giá trị của ông đưa ra, thì đó là một thắng lợi nữa của An Lộc, tuy hơn muộn màng.
“Tôi không tin rằng đưa cuốn sách này ra vào thời điểm bây giờ là quá muộn cho dù câu chuyện xảy ra từ 1972; thêm vào đó sự thật về cuộc chiến An Lộc - mà tất cả người dân miền Nam đều biết dưới tên gọi Bình Long Anh Dũng trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chưa bao giờ được nói tới.”
Tướng Thi cho hay mục đích của sách không ngoài việc cho thế hệ đi sau biết bậc cha ông đã chiến đấu dũng cảm vượt bực trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, đồng thời cũng không quên nhắc đến vai trò thiết yếu của cố vấn Mỹ và sự yểm trợ hỏa lực tối đa của không quân và lục quân Mỹ cho An Lộc. Ông nói rằng từ cuốn sách này cộng đồng thế giới, các trường đại học, giới quân sự, các học giả có thêm một tài liệu tham khảo và biết thêm là quân dân Miền Nam đã bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước như thế nào – trái với những tuyên truyền sai lệch và ác ý trước đây.

Tác giả cuốn “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” Quang X. Phạm, một cựu phi công Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhận xét: “Cuốn sách thứ hai đáng lẽ phải được viết từ lâu của Tướng Lâm Quang Thi đã cung cấp một góc độ nhìn thiếu sót hết sức quan trọng từ phía những người bạn đồng minh Mỹ trên chiến trường Nam Việt Nam. Có thể quan trọng hơn nữa, công trình nghiên cứu của ông đã thu thập được những tài liệu về những nỗ lực dũng cảm của quân lực Nam Việt Nam trong trận chiến quy mô nhứt, không hề được truyền thông Mỹ, quân đội Mỹ và điện ảnh Mỹ quan tâm nhắc nhở. Những cố vấn Mỹ hiện nay và những nhà lãnh đạo quân đội Iraq đang hình thành có thể học hỏi được nhiều từ cuốn sách này trong sứ mạng cùng nhau đánh một mặt trận.”
Vì thế nên khi đến thị sát An Lộc ngày 7 tháng Bẩy, 1972 Tổng Thống Thiệu đã phát biểu: “Chiến thắng Bình Long không chỉ là chiến thắng của Nam Việt Nam chống Cộng Sản Bắc Việt, chiến thắng Bình Long còn là chiến thắng của Thế Giới Tự Do đối với thuyết chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng thế giới của Cộng Sản.”
Vậy thì tại sao thắng lợi đó không được truyền thông Mỹ đề cao?

Phản Chiến
Giải thích về sự thờ ơ của truyền thông Mỹ, ông Thi cho hay năm 1972 khi Mỹ bắt đầu thi hành kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, báo chí chỉ nhắm chỉ trích sự yếu kém, nhu nhược và tham nhũng của quân lực VNCH, thậm chí viết cả sách bôi nhọ chưa kể là lúc đó họ có xu hướng phản chiến và thiên tả.
Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Với mức thiệt hại hơn 10,000 quân địch thuộc ba Công Trường 5, 7, và 9 trang bị hiện đại với chiến xa hạng nặng và không đầy 2,300 tử vong, 8,500 bị thương bên tử thủ, phía VNCH đã phải đối đầu với một lực lượng đông gấp ba lần và vẫn chiến thắng. Và mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện về quân trú đóng An Lộc phải tìm cách hạ tăng địch bằng khẩu phóng lựu M-72 khiêm nhường.
Tướng Thi tin rằng nếu sự yểm trợ quân sự của đồng minh vẫn tiếp tục thì ngày 30 tháng Tư, 1975 không chắc đã xảy ra.
“Tiếc rằng người Mỹ không đủ kiên nhẫn để tham gia một trận chiến trường kỳ và cũng không dám đánh thẳng ra Bắc. Lúc đó người Mỹ có một sứ mạng rõ rệt là chận đứng đà bành trướng của Cộng Sản nhưng lại không có một chiến lược rõ ràng khi tham chiến tại Việt Nam, và đó là điều đưa đến thất bại.”
Tuy vậy vẫn theo lời tác giả Lâm Quang Thi sự kiện Nam Việt Nam mất là cơ hội để các nước láng giềng như Thái-Lan, Indonesia, Malaysia … không bị Cộng Sản hóa và tiếp tục tồn tại trong tự do.
Chuyển lời đến người Mỹ, người viết hai đầu sách về chiến tranh Việt Nam, ông George J. Veith gợi ý rằng “nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”

Và bên cạnh câu chuyện về viết sách, dịch sang tiếng Việt, bán sách gởi tiền giúp các cựu quân nhân thiếu thốn còn ở quê nhà, ông còn chia xẻ về niềm vui chăm sóc đưa đón ba cháu nội trai chỉ ở cách đó mươi phút. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó mới thấy gương mặt ông bớt đăm chiêu nghiêm nghị. Thế nhưng hạnh phúc hiện tại dường không thể đè lên nỗi bứt rứt của người quân nhân buộc lòng phải thua trận mất nước, vẫn sống bằng hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn cho quê hương. Sau cùng khi hỏi về một nước Việt mai sau sẽ biến chuyển như thế nào. Ông nói rằng nước Việt phải là một - đương nhiên rồi, nhưng phải thống nhứt dưới một thể chế dân chủ tự do và điều đó chưa hẳn là không thể xảy ra:
“Với tôi, cuộc chiến Việt Nam chưa hề kết thúc, mà đang diễn ra dưới một hình thức khác,” ông cả quyết.

Wednesday, May 4, 2011

Nhà văn Nguyễn Quí Đức: “Chúng ta đã chậm mất hai thế hệ để hòa giải”

Đăng Ninh
Bay Vút


Photo Duc Ha
Nhà văn Nguyễn Quí Đức là người đã giúp rất nhiều nhà văn Việt Nam chuyển ngữ và giới thiệu các tác phẩm của mình ra thế giới bên ngoài. Mặc dù đi nhiều, viết nhiều nhưng ông xuất bản rất ít. Ông đã sang Mỹ sinh sống từ sau năm 1975. Trước đó, cha ông, một công chức miền Nam, đã bị bắt trong cuộc tấn công tết Mậu Thân 1968 và bị giam tù 12 năm. Năm 1989, ông trở về Việt Nam lần đầu tiên và tới năm 2006 thì về ở hẳn để mở quán cà phê Tadioto trên phố Triệu Việt Vương, Hà Nội.
Bay Vút: Thưa ông, dưới góc nhìn của một người lưu vong sau khi trở về Việt Nam, ông nhìn vấn đề ‘mâu thuẫn dân tộc’ như thế nào?
Nguyễn Quí Đức: “Còn tùy là nói chuyện với ai và ở thế hệ nào. Mỗi thế hệ có sự khác nhau về tầm nhìn, sự hiểu biết về câu chuyện. Có thế hệ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống thời chiến, bị va chạm với những hình ảnh và âm thanh họ nghe và thấy được nên họ có suy nghĩ khác. Nếu như đang sống trong thời chiến, một người thấy phi cơ ném bom xuống làng mình thì chắc chắn tư duy người này sẽ bị ảnh hưởng".
"Thế hệ lớn lên sau này không phải sống trong hoàn cảnh chiến tranh nên họ có cái nhìn bình tĩnh và mềm mỏng hơn. Bây giờ, rất ít người tò mò về quá khứ, về chiến tranh vì người ta cũng mệt khi nghe chuyện này. Hậu chiến, đời sống cơm áo, gạo tiền, là đủ mệt rồi. Thế nhưng những người lưu vong sau 30/4 vẫn cảm thấy vương vấn về chuyện ấy, bởi vì nó vẫn chưa được nói ra một cách thỏa đáng".
"Thoạt đầu những người sang Úc, Pháp, hay Mỹ cách đây mấy chục năm chưa có một chỗ đứng vững vàng nên họ cần một cái định nghĩa: ‘Tôi là ai’. Lúc đó, để trả lời câu hỏi này thì đấy chính là cái quá khứ của chiến tranh, những mất mát, những tranh đấu mà họ đã từng trải qua. Và họ cho rằng đấy là điều quan trọng nhất trong con người của họ. Vì ra nước ngoài họ là một con người khác, phải sống cuộc sống và tiếp thu một nền văn hóa khác. Họ mất hẳn quá khứ đồng thời họ cũng bị bứng khỏi cái gốc rễ cội nguồn".
"Sau này, khi họ tạo dựng được cuộc sống, tiếp nhận được nhiều thông tin thì câu chuyện nó cũng có khác đi. Khi những người trực tiếp tham chiến già đi, đến gần cái tuổi gần đất xa trời thì họ suy nghĩ khác. Cái quan trọng đối với họ bây giờ là về lại nơi họ đã sinh ra, lớn lên. Một số muốn trở về để chết trên mảnh đất quê hương".
"Mâu thuẫn khó khăn nhất của Việt kiều là ở trong nước vẫn không công nhận cái thể chế miền Nam là một chính phủ. Chính quyền hiện nay có thể không còn gọi họ là “ngụy” nữa nhưng đồng thời cũng không gọi là ‘chính phủ miền Nam’. Thật ra, những người này vẫn có những thể chế, những niềm tin và lý tưởng, chứ họ không phải là những người chạy theo Mỹ, để bị gọi là ‘phản quốc’".
"Có nhiều người miền Bắc nói với tôi rằng người lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là những người phản bội tổ quốc. Khi nghe như vậy tôi cũng không biết giải thích gì với họ. Do đó, cũng khó mà nói chuyện. Những người trẻ tuổi hơn thì nói họ mệt chiến tranh lắm rồi, họ muốn ô tô, vật chất và của cải, họ muốn tương lai. Đấy là sự khác biệt rất lớn: những người nước ngoài về thì muốn tìm quá khứ, nguồn gốc, còn người ở trong nước thì muốn hướng tới tương lai giàu có, vinh quang”.
Bay Vút: Hòa bình lập lại, có thể thấy số phận những người lính VNCH rất cơ cực và phải nói là bi đát. Nhưng cho tới tận thời điểm này, tình hình cũng vẫn vậy, nhất là về mặt tinh thần. Mỗi năm vào các dịp kỷ niệm chiến thắng này kia, có lẽ họ sẽ rất buồn khi xem tivi hay đọc những bài báo viết về dịp 30/4?
Nguyễn Quí Đức: “Tôi nhìn nhận chuyện này ở một phạm vi rộng hơn và ở dưới góc độ văn hóa. Nếu tôi là người chiến thắng và nếu tôi là người tự trọng, tôi tự biết tôi là ai thì tôi chẳng cần phải chê bai người khác, hạ bệ người khác để tôi được hay ho hơn. Cái tâm lý miệt thị một người khác chính là cái tâm lý muốn tự đề cao mình lên, trong khi bản chất của sự việc thì chẳng cần phải thế”.
Bay Vút: Có cảm giác phía bên này vẫn coi phía bên kia là những đứa con “hư” của dân tộc nhưng các cụ ta có câu “con hư thì vẫn là con của mẹ”. Có lẽ chúng ta cần có cái nhìn nhân ái và bao dung hơn nữa, ông có thấy vậy không?
Nguyễn Quí Đức: “Tất nhiên là có. Chúng ta cần có thời gian để sự việc tự nó lắng xuống và qua đi, để có sự độ lượng. Bất cứ chính quyền nào cũng vậy, để bảo vệ chỗ đứng của mình, thì phải tự đề cao mình lên và đặt ra cái chỗ đứng thấp kém cho một người khác. Nhưng nếu họ vững tâm hơn, và nếu họ có cái lý chính đáng thì họ sẽ không cần cái đấy nữa".
"Còn với người dân hằng ngày thì cái nỗi đau của ông bộ đội miền Bắc cũng giống nỗi đau của người mẹ miền Nam mất con. Chúng ta đã quên rằng đấy là nỗi đau chung. Về vấn đề này nói theo tinh thần nhà Phật hay Thiên Chúa Giáo thì bao giờ cũng cần cái sự độ lượng, mà độ lượng thì bây giờ đúng là cái xa xỉ. Tôi nghĩ phải mất thêm một thời gian nữa thì chuyện này mới có thể êm xuôi".
Bay Vút: Bài học từ Đông Đức và Tây Đức năm 1989 khi bức tường Berlin sụp đổ, người dân hai miền đã ôm chầm lấy nhau và họ coi nhau là người Đức chứ không còn Đông hay Tây. Tuy nhiên, một số chính trị gia Tây Đức lại không coi như vậy mà vẫn có những quan ngại và định kiến về phía bên kia. Do vậy, tiến trình hòa giải dân tộc đã bị chậm mất một, hai thế hệ. Việt Nam dường như cũng đã mắc phải sai lầm đó, và chúng ta đã chậm mấy thế hệ và liệu còn phải chậm mấy thế hệ nữa thưa ông?
Nguyễn Quí Đức: “Đấy là điều đáng tiếc. Theo tôi thấy thì Việt Nam đã chậm mất hai thế hệ và có lẽ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm. Có một số dấu hiệu đang thay đổi, và tôi nghĩ đến một lúc nào đó vấn đề hòa giải sẽ tự mất đi. Bây giờ thế hệ trẻ trong nước ít người quan tâm đến chiến tranh hay mâu thuẫn, còn thế hệ người Việt trẻ ở nước ngoài thì vì được sống trong một môi trường giáo dục, văn hóa khác nên họ cũng không quan tâm đến nó. Những người lính già rồi cũng sẽ chết đi. Khi già thì họ sẽ có cái nhìn trầm tĩnh hơn. Những bức xúc đau khổ về những người cần hòa giải sẽ được nhìn nhận bình tĩnh hơn".
"Tôi chỉ mong nhà nước tự tin hơn, can đảm hơn để chấp nhận mọi thứ. Bây giờ Việt kiều về đây giúp tài chính, kỹ thuật. Nhưng cùng lúc đó ông ấy lại mang về những niềm tin, ý tưởng về dân chủ của cái xã hội khác. Đất nước có đủ niềm tin cho người ta có tiếng nói hay không? Do đó rất dễ hiểu là những người Việt kiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa là những người không được nhà nước tin tưởng nhiều lắm".
"Như tôi đây, khi trở về nước tôi đâu có xin visa làm báo chí được. Do đó vấn đề ở đây là mình yêu đất nước nhưng đất nước có yêu mình không. Thế nhưng tôi không vì thế mà chống đối. Tôi về tạo dựng công ăn việc làm với quán café này, mang một cái thái độ ứng xử với mọi người khác nhau. Nhưng sau một thời gian sống ở đây thì tôi cảm thấy con người không còn cái tinh thần cộng đồng như trước nữa. Mọi người mệt nhọc quá. Họ chỉ muốn vật chất, giành giật nhau, chạy xe lỡ va quệt là đánh nhau".
"Tuy nhiên, tôi lại thấy có những mâu thuẫn khác phát sinh. Ví dụ những người trẻ bây giờ được đi ra ngoài du học, tiếp nhận những ý tưởng mới và khi trở lại họ có được áp dụng và chấp nhận hay không? Đó lại là một chuyện khác. Đấy không còn là khác biệt vì chiến tranh, mà đấy là vấn đề liên quan tới tư tưởng của thể chế".
"Lấy bài học từ chiến tranh, tôi cho rằng với những người như thế thì khi họ về nước họ có làm được gì hay không, có áp dụng được gì hay không. Hay là vì sống trong một môi trường đầy cạm bẫy như ở Việt Nam thì họ có trở nên ‘hư hỏng’ hay không. Tôi gặp những người ở độ tuổi 30 sau khi đi học ở nước ngoài về bị bất đắc chí, họ chán nản. Ở tuổi 30 họ chẳng còn cái lý tưởng nào để sống và làm việc. Một số ít thì lập nghiệp chính bằng sự quen biết, tiền bạc”.
Bay Vút: Quá khứ là một điều không dễ gì quên, đặc biệt với bối cảnh chiến tranh ở Việt Nam giữa hai miền Nam-Bắc. Nhưng khi hòa bình lập lại, điều quan trọng là cách những người còn sống hành xử với nhau thế nào với nhau, đối xử ra sao với những người đã khuất. Theo ông, thế nào là cách hành xử có văn minh và hòa hợp với nhau nhất?
Nguyễn Quí Đức: “Tôi nghĩ cách hành xử văn minh nhất chính là im lặng. Tôi đặt ngược câu hỏi lại là nếu người miền Nam thắng cuộc thì người miền Nam viết sử như thế nào về người miền Bắc? Có tắm máu, có độ lượng, có thù hằn ai không? Tôi nghĩ là sẽ có, tệ hại hơn hay không thì chưa biết".
"Ngày trước tôi đi làm phóng sự về một lính Mỹ giết một người lính Việt cộng ở Thái Bình. Về sau người này tìm lại được hài cốt và mang trả lại cho gia đình người đã khuất. Trên đường đi làm phóng sự, khi tôi ngồi trên xe thì có ông lính người Bắc nói thao thao bất tuyệt về người lính miền Nam và cho rằng lính miền Nam rất man rợ, độc ác. Tôi ngồi nghe và lặng im chẳng nói gì vì chẳng biết nói gì lúc này cả. Về sau có người về kể lại với cái ông lính người Bắc ấy câu chuyện về gia đình tôi. Sau khi nghe ra, ông ấy gửi lời nhắn mời tôi về nói chuyện với thái độ rất nhã nhặn và hài hòa".
"Mỗi năm không biết bao nhiêu chương trình trên các đài truyền hình nói về các trận chiến này, trận chiến kia. Các chương trình vẫn đều nói cùng một giọng điệu, vẫn một kiểu nói rằng con người miền Nam là con người xấu xa, tàn ác… Tại sao người trong nước là người thắng cuộc, thường dễ tha thứ cho người ta hơn, tại sao không làm được điều ấy?".
"Như bố tôi đi tù 12 năm, giờ tôi hận thù thì cũng chẳng đòi được 12 năm ấy. Cái gì qua rồi thì đã qua rồi. Đòi hỏi hòa giải nằm ở chính mình trước, đường hai chiều bắt đầu từ một chiều”.

Tuesday, May 3, 2011

Những Người Con Của USS Kirk (Phần II)


Đức Hà

Chỉ vài ngày sau khi thủy thủ trên chiến hạm USS Kirk gặp gỡ lần đầu tiên với Baby Kirk Phạm Viễn Phương trong buổi liên hoan hội ngộ tại Renton, bang Washington, ngày 12 tháng Tám 2006 thì Baby Kirk Nguyễn Hạnh Nhân xuất hiện.
Bà Nguyễn Thị Nhỏ - Camp Pendleton
“Sau khi tầu Kirk đưa đến Subic Bay thì mọi người phân tán, tôi lo cho bà xã đâu còn tâm trí đâu mà liên lạc với gia đình mấy bà bầu cùng đi trên tầu Kirk,” ông Nguyễn Hữu Nhượng, trả lời phỏng vấn của qua điện thoại từ Texas.

Ông Nhượng, công chức tại Sài Gòn trước đây kể tiếp rằng sự hốt hoảng khi xuống tàu ra đi, rồi tin Sài Gòn thất thủ, trong lúc lại phải lo lắng cho vợ, bà Nguyễn Thị Nhỏ đang mang bầu đứa con đầu lòng khiến ông hoàn toàn rối trí.
“Kể từ khi vất vả chen chân được xuống tàu HQ3 tại bến Bạch Đằng chiều tối ngày 29 tháng Tư, 1975, thì đầu óc tôi như điên cuồng. Thấy bảo xuống tàu gấp, thì tôi đi chứ chẳng biết đi đâu.”
Ông cho biết tàu không chuẩn bị nước uống và thực phẩm nên khoảng 2-3 ngàn người trên tàu bị đói dài cho đến khi gặp tàu Mỹ tại Côn Sơn.

Hàng ngàn người Việt lênh đênh trên các ghe thuyền, tàu quân sự ngoài khơi hải phận Việt Nam tháng Tư, năm 1975 đã được tàu Mỹ hộ tống hoặc cứu vớt đưa đến Vịnh Subic của Philippines an toàn. Trong số hàng ngàn người này có năm phụ nữ mang bầu được đặc biệt đưa lên tạm trú trên chiến hạm Hoa Kỳ USS Kirk trong suốt chuyến hải hành từ Côn Sơn đến Subic Bay.

Hội Ngộ

Hai mươi chín năm sau, trong lần họp mặt đầu tiên năm 2004 tại San Diego, các thủy thủ trên chiếc Kirk quyết định tìm lại năm phụ nữ từng được họ cưu mang trước đây và nhận những người con của năm bà này làm con nuôi. Năm 2005, qua một bài viết trên báo Người Việt, Baby Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Nguyễn Thị Tường Lan gặp được những người cha nuôi trong ngày USS Kirk’s Reunion tại Orlando, Florida. Năm nay Baby Kirk Phạm Viễn Phương (xem Những Người Con Của USS Kirk - Phần 1), con gái của bà Nguyễn Thị Ân được xum họp với đại gia đình USS Kirk. Và chuyện bất ngờ nhứt là việc tìm thấy của Baby Kirk thứ ba Nguyễn Hạnh Nhân, một kỹ sư ngành hoá tại Dallas, Texas.

Hiện đang hưu trí an nhàn tại thành phố nhỏ Seguin, gần San Antonio, Texas, ông Nguyễn Hữu Nhượng, 67 tuổi nói rằng chuỗi ngày loạn ly vẫn là cơn ác mộng kinh hoàng nhứt đời, nhưng ông cũng không khỏi bỡ ngỡ và không thể quên khi vợ ông sanh con ngày 10 tháng Năm, ’75 trên một tàu hàng Mỹ di chuyển từ Subic đến Guam.
“Sanh xong, họ bắt bả đi tắm và cho ăn đủ thứ kể cả đồ chua mà không kiêng cử gì cả là điều làm tôi ngạc nhiên nhứt khi tiếp xúc với văn minh Mỹ,” ông Nhượng nói trong tiếng cười.

Từ Guam, gia đình ông Nhượng được chuyển trại đến Camp Pendleton, gần San Diego rồi từ đó về với người bảo lãnh ở Seguin.
Tại quê hương thứ hai, gia đình ông Nhượng tiếp tục bành trướng.
“Chúng tôi có thêm hai gái và một trai, tất cả đều chăm học và học thật giỏi, toàn thủ khoa,” ông hãnh diện chia xẻ.

Baby Kirk III

Thế rối, rất bất ngờ vào một ngày trời nóng bức như thường lệ của Nam Texas, ông Nhượng nhận được cú điện thoại làm ông mát rượi cả lòng:
“Ông Vinh trên Seattle gọi cho tôi sau khi hỏi thăm lòng vòng, từ người quen này sang người bạn kia, sau cùng thì tới tôi; cũng may là ông ấy còn nhớ tên Nhường nên cũng dễ kiếm.”
Ông Phạm Xuân Vinh là cha ruột của Baby Phạm Viễn Phương. Ngay sau đó cũng có tin cho biết đã “kiếm ra Baby Kirk thứ ba rồi!”

Ba cô gái 31 tuổi, Nguyễn Hạnh Nhân, Phạm Viễn Phương và Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên giờ đây là những con nuôi của tàu USS Kirk và cả ba đang chờ mong sẽ có dịp gặp nhau trong kỳ họp mặt năm 2007 tại Virginia. Cha và mẹ đã cho họ sự sống, nhưng không ai biết điều gì xảy ra nếu gia đình họ không được sự cưu mang của tàu Kirk, 31 năm trước đây. Bởi vậy khi hỏi về cảm xúc của mình trong buổi Reunion 2006 vừa qua, Baby Kirk Viễn Phương bày tỏ: “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk, thì không biết ra sao nữa?”

Monday, May 2, 2011

Những Người Con Của USS Kirk (Phần I)

Đức Hà

SEATTLE – Vào trưa ngày 30 tháng Tư, 1975 khi một lá cờ được hạ xuống tại Dinh Độc Lập thì Phạm Viễn Phương vẫn còn nằm trong bụng mẹ trong lúc cha, Phạm Xuân Vinh, mẹ Nguyễn Thị Ân cùng anh hai 4 tuổi đang ngồi trên một chiếc Honda hoảng hốt phóng chạy ra bến Bạch Đằng tìm đường thoát thân, giữa một Sài Gòn hoang tàn hấp hối.
USS KIRK FF1087
“Chúng tôi phải đi thôi, cho dù tôi đang mang bầu người con thứ hai được 9 tháng có thể sanh bất cứ lúc nào, mà ở lại thì số phận chồng tôi sẽ tù tội, vợ con không biết tương lai ra sao,” bà Ân, kể lại với VietUSA News giây phút kinh hoàng nhứt của gia đình họ Phạm, giọng nói ngập ngừng xúc động.
Ông Vinh, từng là giảng viên trường Sinh Ngữ Quân Đội, nay đã 65 tuổi, cư dân Lynnwood, phía bắc Seattle, bồi hồi:
“Vào đến Hải Quân Công Xưởng, chúng tôi nhào đại lên tàu Lam Giang HQ402 cùng với khoảng vài ngàn người, chen chúc đến nghẹt thở.”

Nhưng chuyện gì xảy ra sau đó để ngày 18 tháng Năm 1975, bà Ân cho ra đời bé Phạm Viễn Phương trên đất Guam - mẹ tròn con vuông và để Viễn Phương trở thành một trong ba công dân Mỹ gốc Việt đầu tiên sau biến cố ’75 là cả một câu chuyện dài tràn đầy nước mắt hạnh phúc và thương đau, giằng co giữa sự sống và cõi chết. Tuy nhiên hạnh phúc hay sự sống có đến được với hàng ngàn người Việt lênh đênh trên chiếc HQ402 liệt máy và trên 30 tàu thuyền khác cùng trên mươi chiếc trực thăng UH-1 đầy người tị nạn Việt đáp lên tàu Kirk là chính nhờ ơn cưu mang của các chiến hạm Mỹ, đặc biệt là chiếc USS Kirk.
Bà Ân tin chắc “Có Ơn Trên phù hộ.”
Ông Vinh khẳng định: “Chúng tôi may mắn.”
Phạm Viễn Phương, vừa tròn 31 tuổi, tay bồng con trai đầu lòng, 2 tuổi, bày tỏ: “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk?”
Hạm Trưởng USS Kirk khiêm nhường: “Chúng tôi làm theo lệnh với một tấm lòng.”

Ba mươi mốt năm sau, toàn gia đình ông Vinh, nay tăng thêm một rể và một cháu ngoại, đã có buổi gặp gỡ đầu tiên với thủy thủ đoàn chiến hạm Mỹ tại buổi hội ngộ USS Kirk Reunion 2006 tại Renton, Washington, thứ Sáu tuần qua. Nếu năm 1975, gia đình họ Phạm điên đảo lo lắng đến cùng cực cho tương lai khi Sài Gòn xụp đổ, thì ngày 12 tháng Tám vừa qua, họ là thượng khách của buổi trùng phùng tràn đầy tiếng cười, tiếng nhạc và lời chúc tụng bình an. Lần thứ ba liên tiếp từ năm 2004, chiến hạm Kirk lại có tuần lễ đoàn tụ để những người con của USS Kirk có thể gặp gỡ, chung vui với những người đã cứu vớt họ trên đường loạn ly năm nào.

USS Kirk

Hạm Trưởng Paul H. Jacob không thể ngờ rằng sự liên hệ của ông với Việt Nam không chỉ dừng ở chín nhiệm kỳ công tác tại vùng biển VN với nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho mặt trận trên đất liền, mà còn mở rộng đại gia đình tàu USS Kirk đến tận ngày hôm nay.
“Có ai ngờ USS Kirk một chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ lại có con cháu là người gốc Việt?” ông nói trong hãnh diện và vui thú.
Tháng Tư, 1975, tàu Kirk có nhiệm vụ chính là yểm trợ cho các đoàn trực thăng làm công tác di tản nhân viên đại sứ quán cùng các cơ quan Mỹ tại Sài Gòn, nhưng nhiệm vụ phụ lại khó khăn hơn nhiều:
“Chúng tôi cũng được lệnh phải cứu giúp người tị nạn trên biển kể cả trực thăng của các phi công VN, và sau đó chuyển họ sang các tàu dân sự đủ an toàn đi đến cảng Subic, của Phillipines.”

Tuy nhiên để đối phó với tình huống bất ngờ khi phát hiện có năm phụ nữ mang bầu gần ngày sanh trong đó có bà Nguyễn Thị Ân, tàu Kirk không có cách nào khác là cấp tốc thành lập phòng hộ sản dã chiến ngay trên tàu.
“Chúng tôi dùng phòng nghỉ của sĩ quan để lập phòng sanh, nhưng năm bà, bà nào cũng khóc lóc rên la thảm thiết, mà chẳng chịu sanh,” ông kể.
Phải nhiều ngày sau khi chuyển đến Guam, bà Nhường (hay Nhượng) sanh đầu tiên, đến bà Ân sanh ngày 18 và bà Nguyễn Thị Tường Lan ngày 22. Nhưng cũng từ đó USS Kirk và nhóm người Việt mất liên lạc.
Hạm Trưởng Jacob cho hay phải 30 năm sau, nhờ sự giúp đỡ của báo Người Việt, ông mới được gặp người con nuôi đầu.
“Trong cuộc họp mặt năm ngoái tôi gặp con nuôi Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Lan có tên đệm là Kirk, năm nay là con nuôi Phạm Viễn Phương, con của bà Ân, còn phụ nữ thứ ba cũng sanh tại Guam thì chúng tôi vẫn chưa bắt liên lạc được.”

Tuy chiến hạm Kirk được chuyển giao cho Đài Loan năm 1993 và đổi tên thành Fen Yang, nhưng theo lời ông Jacob đại gia đình USS Kirk vẫn còn và ngày một đông con cháu hơn.
“Có vui nào bằng vui đoàn tụ đại gia đình, phải không nhỉ,” ông nói.

Reunion 2006

Đã 31 năm trôi qua, nhưng hình ảnh của những ngày đen tối năm xưa vẫn còn in đậm nét trong từng con người.
Bà Ân, mẹ của baby Kirk Viễn Phương thú nhận: “Thật tình lúc đó chúng tôi không biết chạy đi đâu, dường như có điều gì thúc đẩy nên cứ phía trước chúng tôi liều mình chạy tới.”
Bà Lan, cư dân Long Beach, Nam Cali, mẹ của Baby Kirk Giáng Tiên, cũng y hệt: “Lúc đó tôi chỉ mới 17 tuổi, một thân một mình, bụng mang cháu, thấy hàng xóm chạy thì mình cũng chạy; vậy mà cũng chạy tới tận Mỹ.”
Viễn Phương, thực tế hơn: “Thật là hạnh phúc khi cả gia đình Phương vẫn còn sống và đến định cư tại Mỹ đến ngày hôm nay và Phương có cháu trai đầu lòng, cháu ngoại đầu tiên của tàu Kirk đấy!”
Gia đình ông bà Phạm Xuân Vinh

Và trong lúc mọi người từ thủy thủ đến người Việt đều ghi nhận hình ảnh trái ngược khi Mỹ rút năm ‘75, và người Việt chạy tán loạn để vài mươi năm sau cả người Mỹ lẫn người Việt từ từ trở lại nơi đã bỏ đi, thì Hạm Trưởng Jacob lại có thêm công tác không kém phần ngược trái.
“Năm 1975 tôi có nhiệm vụ cứu vớt người Việt trên biển thì nay tôi lại giúp người Việt tháo gỡ bom, đạn và mìn do người Mỹ ném xuống VN.”
Ông Jacob cùng với con trai là thành viên của nhóm chuyên viên đặc biệt đang làm công tác truy tìm dữ kiện về các tọa độ quân đội Mỹ đã dùng để thả bom hay gài mìn tại chiến trường Việt Nam. Người ta ước tính quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 15 triệu tấn bom đạn các loại trong đó có 10% chưa nổ, và tin cho biết có ít nhứt 38,000 người chết và hàng trăm ngàn người bị thương do bom đạn không nổ kề từ khi chiến tranh chấm dứt.
“Với tôi, nhiệm vụ vẫn chưa hết,” ông nói trong bài diễn văn đọc tại buổi Reunion 2006.

Xem chi tiết về chiến dịch di tản Sài Gòn Frequent Wind của tàu USS Kirk FF 1087 tại đây: http://www.kirk1087.org/frequent-wind/
Xem phim The Lucky Few tại đây: http://www.navytv.org/channel.cfm?c=784&s=115

Sunday, May 1, 2011

Boat People

LTS: Nhà báo Nguyễn Bá Trạc hiện nghỉ hưu tại Phần Lan có thực hiện hai slide shows về thuyền nhân Việt với hình ảnh gom góp từ trên mạng và một số do chính ông chụp trong thời gian làm công tác xã hội tại Pulau Bidong cho Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và hội Hồng Nguyệt Mã Lai (1987-1988).
Kính mời bạn đọc xem lại để thấy lại chính mình trong khoảng thời gian bi đát nhất của đất nước.

-------------------

BOAT PEOPLE

"Boat People" (Thuyền Nhân) là danh từ chung, chỉ những người dùng thuyền vượt thoát quê hương mình vì lý do chính trị. Nhưng từ ngữ này gần như đã thành chữ riêng chỉ những người Việt đặt sinh mạng mình, vợ con gia đình mình, lên những chiếc thuyền mỏng manh để rời khỏi đất nước sau tháng Tư, 1975. Những chuyến đi ấy từng làm cho thế giới phải kinh hoàng
Nhạc nền trong slide show là bản New World Symphony, 2nd Mvt Part 2, của nhà sọan nhạc người Tiệp Antonin Dvorák, soạn năm 1893, trong thời gian ở Hoa Kỳ (1892-1895).
Nhấn vào đây để xem THUYỀN NHÂN


PULAU BIDONG
Trại tỵ nạn Pulau Bidong chính thức mở ngày 8 tháng Tám, 1978, đóng ngày 30 tháng Mười, 1991. Hơn 250,000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân đến ngôi trại tỵ nạn nằm trên hòn đảo nhỏ gần tỉnh Terengganu, Mã Lai này.
Thời gian trôi qua, do sự phá phách của người địa phương, do cây rừng mọc lên, khu trại năm xưa đã hoang phế, nhưng các hình ảnh sinh hoạt của người tỵ nạn trên hòn đảo sau những chuyến vượt biển hãi hùng hãy còn in đậm trong ký ức nhiều người.
Nhạc nền phần đầu trích từ bản New World Symphony Largo - Going Home - Piano của nhà sọan nhạc Tiệp Khắc Antonin Dvorák. Phần sau là bài Biển Nhớ với tiếng hát Khánh Hà. Bài hát này được phát thanh gần như mỗi ngày trong ngôi trại tỵ nạn Pulau Bidong.
Nhấn vào đây để xem PULAU BIDONG