“Nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”
George J. Veith, tác giả cuốn “Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts During the Vietnam War.”
Đức Hà
Từ căn hộ tại lầu ba một chung cư hiền hòa yên bình ở Fremont, người ở có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn những hàng cây với tàn lá đổi màu theo ngày tháng, mùa hè xanh biếc, sang thu chuyển vàng rồi rụng rơi trải thảm khắp mặt đường khi đông tới. Đó là một nơi tuyệt vời để nghỉ hưu và an hưởng tuổi già sau những ngày tháng vật vã với cuộc sống và quên đi dư âm vang vọng của đại bác, chiến xa, khói lửa chiến tranh. Nhưng người ở lại là một cựu tướng, một người từng cầm quân chỉ huy thế nên tâm hồn ông, trái tim ông, suy nghĩ của ông luôn khắc khoải về đất nước mà ông đã phải bỏ lại cách nay hơn 30 năm.
“Tuy gặp may mắn hơn nhiều người Việt tỵ nạn khác khi đến định cư tại Mỹ - kể cả những người ngang cấp bậc, nhưng tôi vẫn thấy buồn. Buồn vì mất nước và buồn vì nhiều người phải vướng vào lao tù, bao nhiêu gia đình ly tán,” cựu tướng Lâm Quang Thi chia xẻ trong một buổi chiều cuối thu lạnh giá.
Gần 80 tuổi, người ông vẫn thẳng đứng, dáng mảnh khảnh, giọng nói lớn sang sảng như khi còn chỉ huy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I năm nào. Có thể chăng vì nỗi u sầu ẩn khuất đó, nên ít thấy ông cười, cho dù câu chuyện trao đổi đôi lúc cũng ra ngoài đề tài về địa ngục An Lộc.
“Trận An Lộc được xem là trận chiến lớn nhứt trong suốt cuộc chiến Việt Nam - mà Sir Robert Thompson, cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Nixon từng mô tả là chiến thắng quân sự lớn nhứt của Thế Giới Tự Do chống lại Cộng Sản sau Thế Chiến II, thế mà chưa bao giờ được truyền thông Mỹ nhắc tới,” ông bày tỏ sự bực tức và khẳng định rằng nếu mất An Lộc năm 1972 thì chỉ 24 tiếng đồng hồ sau quân Bắc Việt - dùng An Lộc làm bàn đạp, sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể nữa.
Nếu chiến thắng An Lộc giúp miền Nam đứng vững thêm được ba năm nữa nhưng cũng là tiền đề cho sự xụp đổ hoàn toàn của Cộng Sản vài năm sau đó, theo lời tác giả Lâm Quang Thi. Ông giải thích:
“Đó là điều mà ít người nhận thấy. Họ (truyền thông Mỹ) chỉ đề cao những chiến thắng của người Mỹ, và sự thật về An Lộc chưa bao giờ được nhắc đến cho đến ngày hôm nay, trong cuốn sách này.”
Những trăn trở đó đã khiến vị tướng quê Bạc Liêu không tiếc thời gian, bỏ công sức hơn bốn năm dài để nghiên cứu thu thập tài liệu, sử liệu, phỏng vấn những chỉ huy mặt trận còn sống sót, tiếp xúc những quân nhân tham dự trận đánh, so sánh các tài liệu của hai phía Việt và Mỹ, kể cả tranh luận với các tác giả Mỹ để hoàn thành cuốn “Hell in An Loc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam.”
Khi góp ý rằng hồi ký chiến tranh của người Việt xuất bản rất nhiều, phần lớn thổi phồng cá nhân, tài liệu dựa vào trí nhớ hay viết nhằm mục đích riêng tư nào đó nên người đọc đôi khi cảm thấy chán ngán và nghi ngờ thì cuốn Hell in An Lộc được tác giả nhấn mạnh là hoàn toàn trung thực. Ông nói:
“Năm 1972 tôi làm Tư Lệnh tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương điều động ba sư đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn giữ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở phía bắc và không liên quan gì đến chiến sự tại Vùng III nơi diễn ra trận chiến An Lộc. Thế nên tôi tin rằng có cái nhìn chính xác hơn, khách quan hơn và chủ yếu không phải phóng đại hay tâng bốc bất cứ ai.”
Ông cho biết thêm rằng khi nhà xuất bản University of North Texas Press bằng lòng cho in, sau khi hội đồng biên tập tranh luận về tính xác thực của các tài liệu, các chứng cứ ghi trong bản thảo và chấp nhận những phản bác có giá trị của ông đưa ra, thì đó là một thắng lợi nữa của An Lộc, tuy hơn muộn màng.
“Tôi không tin rằng đưa cuốn sách này ra vào thời điểm bây giờ là quá muộn cho dù câu chuyện xảy ra từ 1972; thêm vào đó sự thật về cuộc chiến An Lộc - mà tất cả người dân miền Nam đều biết dưới tên gọi Bình Long Anh Dũng trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chưa bao giờ được nói tới.”
Tướng Thi cho hay mục đích của sách không ngoài việc cho thế hệ đi sau biết bậc cha ông đã chiến đấu dũng cảm vượt bực trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, đồng thời cũng không quên nhắc đến vai trò thiết yếu của cố vấn Mỹ và sự yểm trợ hỏa lực tối đa của không quân và lục quân Mỹ cho An Lộc. Ông nói rằng từ cuốn sách này cộng đồng thế giới, các trường đại học, giới quân sự, các học giả có thêm một tài liệu tham khảo và biết thêm là quân dân Miền Nam đã bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước như thế nào – trái với những tuyên truyền sai lệch và ác ý trước đây.
Tác giả cuốn “A Sense of Duty: My Father, My American Journey,” Quang X. Phạm, một cựu phi công Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhận xét: “Cuốn sách thứ hai đáng lẽ phải được viết từ lâu của Tướng Lâm Quang Thi đã cung cấp một góc độ nhìn thiếu sót hết sức quan trọng từ phía những người bạn đồng minh Mỹ trên chiến trường Nam Việt Nam. Có thể quan trọng hơn nữa, công trình nghiên cứu của ông đã thu thập được những tài liệu về những nỗ lực dũng cảm của quân lực Nam Việt Nam trong trận chiến quy mô nhứt, không hề được truyền thông Mỹ, quân đội Mỹ và điện ảnh Mỹ quan tâm nhắc nhở. Những cố vấn Mỹ hiện nay và những nhà lãnh đạo quân đội Iraq đang hình thành có thể học hỏi được nhiều từ cuốn sách này trong sứ mạng cùng nhau đánh một mặt trận.”
Vì thế nên khi đến thị sát An Lộc ngày 7 tháng Bẩy, 1972 Tổng Thống Thiệu đã phát biểu: “Chiến thắng Bình Long không chỉ là chiến thắng của Nam Việt Nam chống Cộng Sản Bắc Việt, chiến thắng Bình Long còn là chiến thắng của Thế Giới Tự Do đối với thuyết chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng thế giới của Cộng Sản.”
Vậy thì tại sao thắng lợi đó không được truyền thông Mỹ đề cao?
Phản Chiến
Giải thích về sự thờ ơ của truyền thông Mỹ, ông Thi cho hay năm 1972 khi Mỹ bắt đầu thi hành kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, báo chí chỉ nhắm chỉ trích sự yếu kém, nhu nhược và tham nhũng của quân lực VNCH, thậm chí viết cả sách bôi nhọ chưa kể là lúc đó họ có xu hướng phản chiến và thiên tả.
Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Với mức thiệt hại hơn 10,000 quân địch thuộc ba Công Trường 5, 7, và 9 trang bị hiện đại với chiến xa hạng nặng và không đầy 2,300 tử vong, 8,500 bị thương bên tử thủ, phía VNCH đã phải đối đầu với một lực lượng đông gấp ba lần và vẫn chiến thắng. Và mọi người vẫn còn nhớ câu chuyện về quân trú đóng An Lộc phải tìm cách hạ tăng địch bằng khẩu phóng lựu M-72 khiêm nhường.
Tướng Thi tin rằng nếu sự yểm trợ quân sự của đồng minh vẫn tiếp tục thì ngày 30 tháng Tư, 1975 không chắc đã xảy ra.
“Tiếc rằng người Mỹ không đủ kiên nhẫn để tham gia một trận chiến trường kỳ và cũng không dám đánh thẳng ra Bắc. Lúc đó người Mỹ có một sứ mạng rõ rệt là chận đứng đà bành trướng của Cộng Sản nhưng lại không có một chiến lược rõ ràng khi tham chiến tại Việt Nam, và đó là điều đưa đến thất bại.”
Tuy vậy vẫn theo lời tác giả Lâm Quang Thi sự kiện Nam Việt Nam mất là cơ hội để các nước láng giềng như Thái-Lan, Indonesia, Malaysia … không bị Cộng Sản hóa và tiếp tục tồn tại trong tự do.
Chuyển lời đến người Mỹ, người viết hai đầu sách về chiến tranh Việt Nam, ông George J. Veith gợi ý rằng “nếu có người Mỹ nào thật sự muốn biết liệu kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh có thành công, hay liệu những đồng minh của người Mỹ có xứng đáng với sự hy sinh của biết bao binh lính Mỹ và gia đình, thì “Hell in An Loc” sẽ dứt khoát trả lời câu hỏi đó…”
Và bên cạnh câu chuyện về viết sách, dịch sang tiếng Việt, bán sách gởi tiền giúp các cựu quân nhân thiếu thốn còn ở quê nhà, ông còn chia xẻ về niềm vui chăm sóc đưa đón ba cháu nội trai chỉ ở cách đó mươi phút. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó mới thấy gương mặt ông bớt đăm chiêu nghiêm nghị. Thế nhưng hạnh phúc hiện tại dường không thể đè lên nỗi bứt rứt của người quân nhân buộc lòng phải thua trận mất nước, vẫn sống bằng hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn cho quê hương. Sau cùng khi hỏi về một nước Việt mai sau sẽ biến chuyển như thế nào. Ông nói rằng nước Việt phải là một - đương nhiên rồi, nhưng phải thống nhứt dưới một thể chế dân chủ tự do và điều đó chưa hẳn là không thể xảy ra:
“Với tôi, cuộc chiến Việt Nam chưa hề kết thúc, mà đang diễn ra dưới một hình thức khác,” ông cả quyết.
Thursday, May 5, 2011
Wednesday, May 4, 2011
Nhà văn Nguyễn Quí Đức: “Chúng ta đã chậm mất hai thế hệ để hòa giải”
Đăng Ninh
Bay Vút
| Photo Duc Ha |
Bay Vút: Thưa ông, dưới góc nhìn của một người lưu vong sau khi trở về Việt Nam, ông nhìn vấn đề ‘mâu thuẫn dân tộc’ như thế nào?
Nguyễn Quí Đức: “Còn tùy là nói chuyện với ai và ở thế hệ nào. Mỗi thế hệ có sự khác nhau về tầm nhìn, sự hiểu biết về câu chuyện. Có thế hệ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống thời chiến, bị va chạm với những hình ảnh và âm thanh họ nghe và thấy được nên họ có suy nghĩ khác. Nếu như đang sống trong thời chiến, một người thấy phi cơ ném bom xuống làng mình thì chắc chắn tư duy người này sẽ bị ảnh hưởng".
"Thế hệ lớn lên sau này không phải sống trong hoàn cảnh chiến tranh nên họ có cái nhìn bình tĩnh và mềm mỏng hơn. Bây giờ, rất ít người tò mò về quá khứ, về chiến tranh vì người ta cũng mệt khi nghe chuyện này. Hậu chiến, đời sống cơm áo, gạo tiền, là đủ mệt rồi. Thế nhưng những người lưu vong sau 30/4 vẫn cảm thấy vương vấn về chuyện ấy, bởi vì nó vẫn chưa được nói ra một cách thỏa đáng".
"Thoạt đầu những người sang Úc, Pháp, hay Mỹ cách đây mấy chục năm chưa có một chỗ đứng vững vàng nên họ cần một cái định nghĩa: ‘Tôi là ai’. Lúc đó, để trả lời câu hỏi này thì đấy chính là cái quá khứ của chiến tranh, những mất mát, những tranh đấu mà họ đã từng trải qua. Và họ cho rằng đấy là điều quan trọng nhất trong con người của họ. Vì ra nước ngoài họ là một con người khác, phải sống cuộc sống và tiếp thu một nền văn hóa khác. Họ mất hẳn quá khứ đồng thời họ cũng bị bứng khỏi cái gốc rễ cội nguồn".
"Sau này, khi họ tạo dựng được cuộc sống, tiếp nhận được nhiều thông tin thì câu chuyện nó cũng có khác đi. Khi những người trực tiếp tham chiến già đi, đến gần cái tuổi gần đất xa trời thì họ suy nghĩ khác. Cái quan trọng đối với họ bây giờ là về lại nơi họ đã sinh ra, lớn lên. Một số muốn trở về để chết trên mảnh đất quê hương".
"Mâu thuẫn khó khăn nhất của Việt kiều là ở trong nước vẫn không công nhận cái thể chế miền Nam là một chính phủ. Chính quyền hiện nay có thể không còn gọi họ là “ngụy” nữa nhưng đồng thời cũng không gọi là ‘chính phủ miền Nam’. Thật ra, những người này vẫn có những thể chế, những niềm tin và lý tưởng, chứ họ không phải là những người chạy theo Mỹ, để bị gọi là ‘phản quốc’".
"Có nhiều người miền Bắc nói với tôi rằng người lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là những người phản bội tổ quốc. Khi nghe như vậy tôi cũng không biết giải thích gì với họ. Do đó, cũng khó mà nói chuyện. Những người trẻ tuổi hơn thì nói họ mệt chiến tranh lắm rồi, họ muốn ô tô, vật chất và của cải, họ muốn tương lai. Đấy là sự khác biệt rất lớn: những người nước ngoài về thì muốn tìm quá khứ, nguồn gốc, còn người ở trong nước thì muốn hướng tới tương lai giàu có, vinh quang”.
Bay Vút: Hòa bình lập lại, có thể thấy số phận những người lính VNCH rất cơ cực và phải nói là bi đát. Nhưng cho tới tận thời điểm này, tình hình cũng vẫn vậy, nhất là về mặt tinh thần. Mỗi năm vào các dịp kỷ niệm chiến thắng này kia, có lẽ họ sẽ rất buồn khi xem tivi hay đọc những bài báo viết về dịp 30/4?
Nguyễn Quí Đức: “Tôi nhìn nhận chuyện này ở một phạm vi rộng hơn và ở dưới góc độ văn hóa. Nếu tôi là người chiến thắng và nếu tôi là người tự trọng, tôi tự biết tôi là ai thì tôi chẳng cần phải chê bai người khác, hạ bệ người khác để tôi được hay ho hơn. Cái tâm lý miệt thị một người khác chính là cái tâm lý muốn tự đề cao mình lên, trong khi bản chất của sự việc thì chẳng cần phải thế”.
Bay Vút: Có cảm giác phía bên này vẫn coi phía bên kia là những đứa con “hư” của dân tộc nhưng các cụ ta có câu “con hư thì vẫn là con của mẹ”. Có lẽ chúng ta cần có cái nhìn nhân ái và bao dung hơn nữa, ông có thấy vậy không?
Nguyễn Quí Đức: “Tất nhiên là có. Chúng ta cần có thời gian để sự việc tự nó lắng xuống và qua đi, để có sự độ lượng. Bất cứ chính quyền nào cũng vậy, để bảo vệ chỗ đứng của mình, thì phải tự đề cao mình lên và đặt ra cái chỗ đứng thấp kém cho một người khác. Nhưng nếu họ vững tâm hơn, và nếu họ có cái lý chính đáng thì họ sẽ không cần cái đấy nữa".
"Còn với người dân hằng ngày thì cái nỗi đau của ông bộ đội miền Bắc cũng giống nỗi đau của người mẹ miền Nam mất con. Chúng ta đã quên rằng đấy là nỗi đau chung. Về vấn đề này nói theo tinh thần nhà Phật hay Thiên Chúa Giáo thì bao giờ cũng cần cái sự độ lượng, mà độ lượng thì bây giờ đúng là cái xa xỉ. Tôi nghĩ phải mất thêm một thời gian nữa thì chuyện này mới có thể êm xuôi".
Bay Vút: Bài học từ Đông Đức và Tây Đức năm 1989 khi bức tường Berlin sụp đổ, người dân hai miền đã ôm chầm lấy nhau và họ coi nhau là người Đức chứ không còn Đông hay Tây. Tuy nhiên, một số chính trị gia Tây Đức lại không coi như vậy mà vẫn có những quan ngại và định kiến về phía bên kia. Do vậy, tiến trình hòa giải dân tộc đã bị chậm mất một, hai thế hệ. Việt Nam dường như cũng đã mắc phải sai lầm đó, và chúng ta đã chậm mấy thế hệ và liệu còn phải chậm mấy thế hệ nữa thưa ông?
Nguyễn Quí Đức: “Đấy là điều đáng tiếc. Theo tôi thấy thì Việt Nam đã chậm mất hai thế hệ và có lẽ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm. Có một số dấu hiệu đang thay đổi, và tôi nghĩ đến một lúc nào đó vấn đề hòa giải sẽ tự mất đi. Bây giờ thế hệ trẻ trong nước ít người quan tâm đến chiến tranh hay mâu thuẫn, còn thế hệ người Việt trẻ ở nước ngoài thì vì được sống trong một môi trường giáo dục, văn hóa khác nên họ cũng không quan tâm đến nó. Những người lính già rồi cũng sẽ chết đi. Khi già thì họ sẽ có cái nhìn trầm tĩnh hơn. Những bức xúc đau khổ về những người cần hòa giải sẽ được nhìn nhận bình tĩnh hơn".
"Tôi chỉ mong nhà nước tự tin hơn, can đảm hơn để chấp nhận mọi thứ. Bây giờ Việt kiều về đây giúp tài chính, kỹ thuật. Nhưng cùng lúc đó ông ấy lại mang về những niềm tin, ý tưởng về dân chủ của cái xã hội khác. Đất nước có đủ niềm tin cho người ta có tiếng nói hay không? Do đó rất dễ hiểu là những người Việt kiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa là những người không được nhà nước tin tưởng nhiều lắm".
"Như tôi đây, khi trở về nước tôi đâu có xin visa làm báo chí được. Do đó vấn đề ở đây là mình yêu đất nước nhưng đất nước có yêu mình không. Thế nhưng tôi không vì thế mà chống đối. Tôi về tạo dựng công ăn việc làm với quán café này, mang một cái thái độ ứng xử với mọi người khác nhau. Nhưng sau một thời gian sống ở đây thì tôi cảm thấy con người không còn cái tinh thần cộng đồng như trước nữa. Mọi người mệt nhọc quá. Họ chỉ muốn vật chất, giành giật nhau, chạy xe lỡ va quệt là đánh nhau".
"Tuy nhiên, tôi lại thấy có những mâu thuẫn khác phát sinh. Ví dụ những người trẻ bây giờ được đi ra ngoài du học, tiếp nhận những ý tưởng mới và khi trở lại họ có được áp dụng và chấp nhận hay không? Đó lại là một chuyện khác. Đấy không còn là khác biệt vì chiến tranh, mà đấy là vấn đề liên quan tới tư tưởng của thể chế".
"Lấy bài học từ chiến tranh, tôi cho rằng với những người như thế thì khi họ về nước họ có làm được gì hay không, có áp dụng được gì hay không. Hay là vì sống trong một môi trường đầy cạm bẫy như ở Việt Nam thì họ có trở nên ‘hư hỏng’ hay không. Tôi gặp những người ở độ tuổi 30 sau khi đi học ở nước ngoài về bị bất đắc chí, họ chán nản. Ở tuổi 30 họ chẳng còn cái lý tưởng nào để sống và làm việc. Một số ít thì lập nghiệp chính bằng sự quen biết, tiền bạc”.
Bay Vút: Quá khứ là một điều không dễ gì quên, đặc biệt với bối cảnh chiến tranh ở Việt Nam giữa hai miền Nam-Bắc. Nhưng khi hòa bình lập lại, điều quan trọng là cách những người còn sống hành xử với nhau thế nào với nhau, đối xử ra sao với những người đã khuất. Theo ông, thế nào là cách hành xử có văn minh và hòa hợp với nhau nhất?
Nguyễn Quí Đức: “Tôi nghĩ cách hành xử văn minh nhất chính là im lặng. Tôi đặt ngược câu hỏi lại là nếu người miền Nam thắng cuộc thì người miền Nam viết sử như thế nào về người miền Bắc? Có tắm máu, có độ lượng, có thù hằn ai không? Tôi nghĩ là sẽ có, tệ hại hơn hay không thì chưa biết".
"Ngày trước tôi đi làm phóng sự về một lính Mỹ giết một người lính Việt cộng ở Thái Bình. Về sau người này tìm lại được hài cốt và mang trả lại cho gia đình người đã khuất. Trên đường đi làm phóng sự, khi tôi ngồi trên xe thì có ông lính người Bắc nói thao thao bất tuyệt về người lính miền Nam và cho rằng lính miền Nam rất man rợ, độc ác. Tôi ngồi nghe và lặng im chẳng nói gì vì chẳng biết nói gì lúc này cả. Về sau có người về kể lại với cái ông lính người Bắc ấy câu chuyện về gia đình tôi. Sau khi nghe ra, ông ấy gửi lời nhắn mời tôi về nói chuyện với thái độ rất nhã nhặn và hài hòa".
"Mỗi năm không biết bao nhiêu chương trình trên các đài truyền hình nói về các trận chiến này, trận chiến kia. Các chương trình vẫn đều nói cùng một giọng điệu, vẫn một kiểu nói rằng con người miền Nam là con người xấu xa, tàn ác… Tại sao người trong nước là người thắng cuộc, thường dễ tha thứ cho người ta hơn, tại sao không làm được điều ấy?".
"Như bố tôi đi tù 12 năm, giờ tôi hận thù thì cũng chẳng đòi được 12 năm ấy. Cái gì qua rồi thì đã qua rồi. Đòi hỏi hòa giải nằm ở chính mình trước, đường hai chiều bắt đầu từ một chiều”.
Tuesday, May 3, 2011
Những Người Con Của USS Kirk (Phần II)
Đức Hà
Chỉ vài ngày sau khi thủy thủ trên chiến hạm USS Kirk gặp gỡ lần đầu tiên với Baby Kirk Phạm Viễn Phương trong buổi liên hoan hội ngộ tại Renton, bang Washington, ngày 12 tháng Tám 2006 thì Baby Kirk Nguyễn Hạnh Nhân xuất hiện.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Nhỏ - Camp Pendleton |
“Sau khi tầu Kirk đưa đến Subic Bay thì mọi người phân tán, tôi lo cho bà xã đâu còn tâm trí đâu mà liên lạc với gia đình mấy bà bầu cùng đi trên tầu Kirk,” ông Nguyễn Hữu Nhượng, trả lời phỏng vấn của qua điện thoại từ Texas.
Ông Nhượng, công chức tại Sài Gòn trước đây kể tiếp rằng sự hốt hoảng khi xuống tàu ra đi, rồi tin Sài Gòn thất thủ, trong lúc lại phải lo lắng cho vợ, bà Nguyễn Thị Nhỏ đang mang bầu đứa con đầu lòng khiến ông hoàn toàn rối trí.
“Kể từ khi vất vả chen chân được xuống tàu HQ3 tại bến Bạch Đằng chiều tối ngày 29 tháng Tư, 1975, thì đầu óc tôi như điên cuồng. Thấy bảo xuống tàu gấp, thì tôi đi chứ chẳng biết đi đâu.”
Ông cho biết tàu không chuẩn bị nước uống và thực phẩm nên khoảng 2-3 ngàn người trên tàu bị đói dài cho đến khi gặp tàu Mỹ tại Côn Sơn.
Hàng ngàn người Việt lênh đênh trên các ghe thuyền, tàu quân sự ngoài khơi hải phận Việt Nam tháng Tư, năm 1975 đã được tàu Mỹ hộ tống hoặc cứu vớt đưa đến Vịnh Subic của Philippines an toàn. Trong số hàng ngàn người này có năm phụ nữ mang bầu được đặc biệt đưa lên tạm trú trên chiến hạm Hoa Kỳ USS Kirk trong suốt chuyến hải hành từ Côn Sơn đến Subic Bay.
Hội Ngộ
Hai mươi chín năm sau, trong lần họp mặt đầu tiên năm 2004 tại San Diego, các thủy thủ trên chiếc Kirk quyết định tìm lại năm phụ nữ từng được họ cưu mang trước đây và nhận những người con của năm bà này làm con nuôi. Năm 2005, qua một bài viết trên báo Người Việt, Baby Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Nguyễn Thị Tường Lan gặp được những người cha nuôi trong ngày USS Kirk’s Reunion tại Orlando, Florida. Năm nay Baby Kirk Phạm Viễn Phương (xem Những Người Con Của USS Kirk - Phần 1), con gái của bà Nguyễn Thị Ân được xum họp với đại gia đình USS Kirk. Và chuyện bất ngờ nhứt là việc tìm thấy của Baby Kirk thứ ba Nguyễn Hạnh Nhân, một kỹ sư ngành hoá tại Dallas, Texas.
Hiện đang hưu trí an nhàn tại thành phố nhỏ Seguin, gần San Antonio, Texas, ông Nguyễn Hữu Nhượng, 67 tuổi nói rằng chuỗi ngày loạn ly vẫn là cơn ác mộng kinh hoàng nhứt đời, nhưng ông cũng không khỏi bỡ ngỡ và không thể quên khi vợ ông sanh con ngày 10 tháng Năm, ’75 trên một tàu hàng Mỹ di chuyển từ Subic đến Guam.
“Sanh xong, họ bắt bả đi tắm và cho ăn đủ thứ kể cả đồ chua mà không kiêng cử gì cả là điều làm tôi ngạc nhiên nhứt khi tiếp xúc với văn minh Mỹ,” ông Nhượng nói trong tiếng cười.
Từ Guam, gia đình ông Nhượng được chuyển trại đến Camp Pendleton, gần San Diego rồi từ đó về với người bảo lãnh ở Seguin.
Tại quê hương thứ hai, gia đình ông Nhượng tiếp tục bành trướng.
“Chúng tôi có thêm hai gái và một trai, tất cả đều chăm học và học thật giỏi, toàn thủ khoa,” ông hãnh diện chia xẻ.
Baby Kirk III
Thế rối, rất bất ngờ vào một ngày trời nóng bức như thường lệ của Nam Texas, ông Nhượng nhận được cú điện thoại làm ông mát rượi cả lòng:
“Ông Vinh trên Seattle gọi cho tôi sau khi hỏi thăm lòng vòng, từ người quen này sang người bạn kia, sau cùng thì tới tôi; cũng may là ông ấy còn nhớ tên Nhường nên cũng dễ kiếm.”
Ông Phạm Xuân Vinh là cha ruột của Baby Phạm Viễn Phương. Ngay sau đó cũng có tin cho biết đã “kiếm ra Baby Kirk thứ ba rồi!”
Ba cô gái 31 tuổi, Nguyễn Hạnh Nhân, Phạm Viễn Phương và Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên giờ đây là những con nuôi của tàu USS Kirk và cả ba đang chờ mong sẽ có dịp gặp nhau trong kỳ họp mặt năm 2007 tại Virginia. Cha và mẹ đã cho họ sự sống, nhưng không ai biết điều gì xảy ra nếu gia đình họ không được sự cưu mang của tàu Kirk, 31 năm trước đây. Bởi vậy khi hỏi về cảm xúc của mình trong buổi Reunion 2006 vừa qua, Baby Kirk Viễn Phương bày tỏ: “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk, thì không biết ra sao nữa?”
Monday, May 2, 2011
Những Người Con Của USS Kirk (Phần I)
Đức Hà
SEATTLE – Vào trưa ngày 30 tháng Tư, 1975 khi một lá cờ được hạ xuống tại Dinh Độc Lập thì Phạm Viễn Phương vẫn còn nằm trong bụng mẹ trong lúc cha, Phạm Xuân Vinh, mẹ Nguyễn Thị Ân cùng anh hai 4 tuổi đang ngồi trên một chiếc Honda hoảng hốt phóng chạy ra bến Bạch Đằng tìm đường thoát thân, giữa một Sài Gòn hoang tàn hấp hối.
![]() |
| USS KIRK FF1087 |
“Chúng tôi phải đi thôi, cho dù tôi đang mang bầu người con thứ hai được 9 tháng có thể sanh bất cứ lúc nào, mà ở lại thì số phận chồng tôi sẽ tù tội, vợ con không biết tương lai ra sao,” bà Ân, kể lại với VietUSA News giây phút kinh hoàng nhứt của gia đình họ Phạm, giọng nói ngập ngừng xúc động.
Ông Vinh, từng là giảng viên trường Sinh Ngữ Quân Đội, nay đã 65 tuổi, cư dân Lynnwood, phía bắc Seattle, bồi hồi:
“Vào đến Hải Quân Công Xưởng, chúng tôi nhào đại lên tàu Lam Giang HQ402 cùng với khoảng vài ngàn người, chen chúc đến nghẹt thở.”
Nhưng chuyện gì xảy ra sau đó để ngày 18 tháng Năm 1975, bà Ân cho ra đời bé Phạm Viễn Phương trên đất Guam - mẹ tròn con vuông và để Viễn Phương trở thành một trong ba công dân Mỹ gốc Việt đầu tiên sau biến cố ’75 là cả một câu chuyện dài tràn đầy nước mắt hạnh phúc và thương đau, giằng co giữa sự sống và cõi chết. Tuy nhiên hạnh phúc hay sự sống có đến được với hàng ngàn người Việt lênh đênh trên chiếc HQ402 liệt máy và trên 30 tàu thuyền khác cùng trên mươi chiếc trực thăng UH-1 đầy người tị nạn Việt đáp lên tàu Kirk là chính nhờ ơn cưu mang của các chiến hạm Mỹ, đặc biệt là chiếc USS Kirk.
Bà Ân tin chắc “Có Ơn Trên phù hộ.”
Ông Vinh khẳng định: “Chúng tôi may mắn.”
Phạm Viễn Phương, vừa tròn 31 tuổi, tay bồng con trai đầu lòng, 2 tuổi, bày tỏ: “Trời ơi, nếu không có tàu Kirk?”
Hạm Trưởng USS Kirk khiêm nhường: “Chúng tôi làm theo lệnh với một tấm lòng.”
Ba mươi mốt năm sau, toàn gia đình ông Vinh, nay tăng thêm một rể và một cháu ngoại, đã có buổi gặp gỡ đầu tiên với thủy thủ đoàn chiến hạm Mỹ tại buổi hội ngộ USS Kirk Reunion 2006 tại Renton, Washington, thứ Sáu tuần qua. Nếu năm 1975, gia đình họ Phạm điên đảo lo lắng đến cùng cực cho tương lai khi Sài Gòn xụp đổ, thì ngày 12 tháng Tám vừa qua, họ là thượng khách của buổi trùng phùng tràn đầy tiếng cười, tiếng nhạc và lời chúc tụng bình an. Lần thứ ba liên tiếp từ năm 2004, chiến hạm Kirk lại có tuần lễ đoàn tụ để những người con của USS Kirk có thể gặp gỡ, chung vui với những người đã cứu vớt họ trên đường loạn ly năm nào.
USS Kirk
Hạm Trưởng Paul H. Jacob không thể ngờ rằng sự liên hệ của ông với Việt Nam không chỉ dừng ở chín nhiệm kỳ công tác tại vùng biển VN với nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho mặt trận trên đất liền, mà còn mở rộng đại gia đình tàu USS Kirk đến tận ngày hôm nay.
“Có ai ngờ USS Kirk một chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ lại có con cháu là người gốc Việt?” ông nói trong hãnh diện và vui thú.
Tháng Tư, 1975, tàu Kirk có nhiệm vụ chính là yểm trợ cho các đoàn trực thăng làm công tác di tản nhân viên đại sứ quán cùng các cơ quan Mỹ tại Sài Gòn, nhưng nhiệm vụ phụ lại khó khăn hơn nhiều:
“Chúng tôi cũng được lệnh phải cứu giúp người tị nạn trên biển kể cả trực thăng của các phi công VN, và sau đó chuyển họ sang các tàu dân sự đủ an toàn đi đến cảng Subic, của Phillipines.”
Tuy nhiên để đối phó với tình huống bất ngờ khi phát hiện có năm phụ nữ mang bầu gần ngày sanh trong đó có bà Nguyễn Thị Ân, tàu Kirk không có cách nào khác là cấp tốc thành lập phòng hộ sản dã chiến ngay trên tàu.
“Chúng tôi dùng phòng nghỉ của sĩ quan để lập phòng sanh, nhưng năm bà, bà nào cũng khóc lóc rên la thảm thiết, mà chẳng chịu sanh,” ông kể.
Phải nhiều ngày sau khi chuyển đến Guam, bà Nhường (hay Nhượng) sanh đầu tiên, đến bà Ân sanh ngày 18 và bà Nguyễn Thị Tường Lan ngày 22. Nhưng cũng từ đó USS Kirk và nhóm người Việt mất liên lạc.
Hạm Trưởng Jacob cho hay phải 30 năm sau, nhờ sự giúp đỡ của báo Người Việt, ông mới được gặp người con nuôi đầu.
“Trong cuộc họp mặt năm ngoái tôi gặp con nuôi Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, con gái của bà Lan có tên đệm là Kirk, năm nay là con nuôi Phạm Viễn Phương, con của bà Ân, còn phụ nữ thứ ba cũng sanh tại Guam thì chúng tôi vẫn chưa bắt liên lạc được.”
Tuy chiến hạm Kirk được chuyển giao cho Đài Loan năm 1993 và đổi tên thành Fen Yang, nhưng theo lời ông Jacob đại gia đình USS Kirk vẫn còn và ngày một đông con cháu hơn.
“Có vui nào bằng vui đoàn tụ đại gia đình, phải không nhỉ,” ông nói.
Reunion 2006
Đã 31 năm trôi qua, nhưng hình ảnh của những ngày đen tối năm xưa vẫn còn in đậm nét trong từng con người.
Bà Ân, mẹ của baby Kirk Viễn Phương thú nhận: “Thật tình lúc đó chúng tôi không biết chạy đi đâu, dường như có điều gì thúc đẩy nên cứ phía trước chúng tôi liều mình chạy tới.”
Bà Lan, cư dân Long Beach, Nam Cali, mẹ của Baby Kirk Giáng Tiên, cũng y hệt: “Lúc đó tôi chỉ mới 17 tuổi, một thân một mình, bụng mang cháu, thấy hàng xóm chạy thì mình cũng chạy; vậy mà cũng chạy tới tận Mỹ.”
Viễn Phương, thực tế hơn: “Thật là hạnh phúc khi cả gia đình Phương vẫn còn sống và đến định cư tại Mỹ đến ngày hôm nay và Phương có cháu trai đầu lòng, cháu ngoại đầu tiên của tàu Kirk đấy!”
Và trong lúc mọi người từ thủy thủ đến người Việt đều ghi nhận hình ảnh trái ngược khi Mỹ rút năm ‘75, và người Việt chạy tán loạn để vài mươi năm sau cả người Mỹ lẫn người Việt từ từ trở lại nơi đã bỏ đi, thì Hạm Trưởng Jacob lại có thêm công tác không kém phần ngược trái.
“Năm 1975 tôi có nhiệm vụ cứu vớt người Việt trên biển thì nay tôi lại giúp người Việt tháo gỡ bom, đạn và mìn do người Mỹ ném xuống VN.”
Ông Jacob cùng với con trai là thành viên của nhóm chuyên viên đặc biệt đang làm công tác truy tìm dữ kiện về các tọa độ quân đội Mỹ đã dùng để thả bom hay gài mìn tại chiến trường Việt Nam. Người ta ước tính quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 15 triệu tấn bom đạn các loại trong đó có 10% chưa nổ, và tin cho biết có ít nhứt 38,000 người chết và hàng trăm ngàn người bị thương do bom đạn không nổ kề từ khi chiến tranh chấm dứt.
“Với tôi, nhiệm vụ vẫn chưa hết,” ông nói trong bài diễn văn đọc tại buổi Reunion 2006.
Xem chi tiết về chiến dịch di tản Sài Gòn Frequent Wind của tàu USS Kirk FF 1087 tại đây: http://www.kirk1087.org/frequent-wind/
Xem phim The Lucky Few tại đây: http://www.navytv.org/channel.cfm?c=784&s=115
Sunday, May 1, 2011
Boat People
LTS: Nhà báo Nguyễn Bá Trạc hiện nghỉ hưu tại Phần Lan có thực hiện hai slide shows về thuyền nhân Việt với hình ảnh gom góp từ trên mạng và một số do chính ông chụp trong thời gian làm công tác xã hội tại Pulau Bidong cho Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và hội Hồng Nguyệt Mã Lai (1987-1988).
Kính mời bạn đọc xem lại để thấy lại chính mình trong khoảng thời gian bi đát nhất của đất nước.
-------------------
BOAT PEOPLE
"Boat People" (Thuyền Nhân) là danh từ chung, chỉ những người dùng thuyền vượt thoát quê hương mình vì lý do chính trị. Nhưng từ ngữ này gần như đã thành chữ riêng chỉ những người Việt đặt sinh mạng mình, vợ con gia đình mình, lên những chiếc thuyền mỏng manh để rời khỏi đất nước sau tháng Tư, 1975. Những chuyến đi ấy từng làm cho thế giới phải kinh hoàng
Nhạc nền trong slide show là bản New World Symphony, 2nd Mvt Part 2, của nhà sọan nhạc người Tiệp Antonin Dvorák, soạn năm 1893, trong thời gian ở Hoa Kỳ (1892-1895).
Nhấn vào đây để xem THUYỀN NHÂN
PULAU BIDONG
Trại tỵ nạn Pulau Bidong chính thức mở ngày 8 tháng Tám, 1978, đóng ngày 30 tháng Mười, 1991. Hơn 250,000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân đến ngôi trại tỵ nạn nằm trên hòn đảo nhỏ gần tỉnh Terengganu, Mã Lai này.
Thời gian trôi qua, do sự phá phách của người địa phương, do cây rừng mọc lên, khu trại năm xưa đã hoang phế, nhưng các hình ảnh sinh hoạt của người tỵ nạn trên hòn đảo sau những chuyến vượt biển hãi hùng hãy còn in đậm trong ký ức nhiều người.
Nhạc nền phần đầu trích từ bản New World Symphony Largo - Going Home - Piano của nhà sọan nhạc Tiệp Khắc Antonin Dvorák. Phần sau là bài Biển Nhớ với tiếng hát Khánh Hà. Bài hát này được phát thanh gần như mỗi ngày trong ngôi trại tỵ nạn Pulau Bidong.
Nhấn vào đây để xem PULAU BIDONG
Kính mời bạn đọc xem lại để thấy lại chính mình trong khoảng thời gian bi đát nhất của đất nước.
-------------------
BOAT PEOPLE
"Boat People" (Thuyền Nhân) là danh từ chung, chỉ những người dùng thuyền vượt thoát quê hương mình vì lý do chính trị. Nhưng từ ngữ này gần như đã thành chữ riêng chỉ những người Việt đặt sinh mạng mình, vợ con gia đình mình, lên những chiếc thuyền mỏng manh để rời khỏi đất nước sau tháng Tư, 1975. Những chuyến đi ấy từng làm cho thế giới phải kinh hoàng
Nhạc nền trong slide show là bản New World Symphony, 2nd Mvt Part 2, của nhà sọan nhạc người Tiệp Antonin Dvorák, soạn năm 1893, trong thời gian ở Hoa Kỳ (1892-1895).
Nhấn vào đây để xem THUYỀN NHÂN
PULAU BIDONG
Trại tỵ nạn Pulau Bidong chính thức mở ngày 8 tháng Tám, 1978, đóng ngày 30 tháng Mười, 1991. Hơn 250,000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân đến ngôi trại tỵ nạn nằm trên hòn đảo nhỏ gần tỉnh Terengganu, Mã Lai này.
Thời gian trôi qua, do sự phá phách của người địa phương, do cây rừng mọc lên, khu trại năm xưa đã hoang phế, nhưng các hình ảnh sinh hoạt của người tỵ nạn trên hòn đảo sau những chuyến vượt biển hãi hùng hãy còn in đậm trong ký ức nhiều người.
Nhạc nền phần đầu trích từ bản New World Symphony Largo - Going Home - Piano của nhà sọan nhạc Tiệp Khắc Antonin Dvorák. Phần sau là bài Biển Nhớ với tiếng hát Khánh Hà. Bài hát này được phát thanh gần như mỗi ngày trong ngôi trại tỵ nạn Pulau Bidong.
Nhấn vào đây để xem PULAU BIDONG
Saturday, April 30, 2011
Black April Memorial Week
California legislature—2011–12 regular session Assembly Concurrent Resolution No. 40
Introduced by Assembly Member Solorio (Principal coauthor: Senator Correa)
March 21, 2011
Assembly Concurrent Resolution No. 40—Relative to Vietnamese American history. legislative counsel’s digest
Fiscal committee: no.
WHEREAS, April 30, 2011, marks the 36th anniversary of the end of the Vietnam War and the start of the eventual exodus of several million Vietnamese out of Vietnam after South Vietnam’s capital of Saigon fell to the communists on April 30, 1975; and
WHEREAS, For many Vietnam and Vietnam-era veterans who were directly involved in the war and Vietnamese Americans who have settled in the United States, the Vietnam War was a tragedy full of great suffering and the loss of American, Vietnamese, and Southeast Asian lives; and
WHEREAS, 58,169 people were killed and 304,000 were wounded out of the 2.59 million people who served in the Vietnam War so that one out of every ten Americans who served in Vietnam became a casualty of war; and
WHEREAS, During the American evacuation of Saigon, the first wave of Vietnamese refugees, 135,000 strong, mostly military officers and their families, took temporary shelter through several international refugee camps, and at Camp Pendleton in San Diego, Fort Chaffee in Arkansas, and Indiantown Gap in Pennsylvania; and WHEREAS, Starting in 1977, and lasting through the mid-1980s, a second wave of Vietnamese refugees comprised mostly of “boat people” began leaving Vietnam; and
WHEREAS, Seeing no future under communism, nearly 800,000 boat people risked their lives in small, dangerous boats to travel to resettlement camps in Hong Kong, Malaysia, Indonesia, Thailand, and the Philippines before eventually being resettled in the United States; and
WHEREAS, The Red Cross estimated that during that time, at least 300,000 Vietnamese died on the high seas while trying to escape communism; and
WHEREAS, After 1985, a third wave of Vietnamese refugees came to the United States under the Orderly Department Program; and
WHEREAS, In 1988, Congress passed the Operation Homecoming Act, a program allowing approximately 80,000 Amerasian children (offspring of GI fathers and Vietnamese mothers) to come to America; and
WHEREAS, By 1990, the fourth wave of Vietnamese refugees began arriving in the United States under the Humanitarian Operation, and today, more than 1.7 million Vietnamese immigrants reside in the United States; and
WHEREAS, Studies using census data show that foreign-born Vietnamese entering the United States in the 1980s, 1990s, and 2000 to 2005, inclusive, have seen an increase in terms of English proficiency, proportion of college graduates, the number of owner−occupied housing, family median income, and naturalization; and
WHEREAS, Over the years, Vietnamese immigrants have overcome social, economic, and language barriers of unforeseen magnitude to grow and become the most assimilated along civic dimensions of any large group in America; and
WHEREAS, Through emphasis on intense study, Vietnamese Americans have reached the pinnacles of American success in a variety of fields, including business and entrepreneurship, science and technology, space travel, medicine, the executive branch of the United States government, politics, the United States military, the United States judicial system, professional sports, and most recently, cultural icon status in cooking, modeling, acting, and comedy; and
WHEREAS, In order to serve their community and prosper in America, Vietnamese Americans formed well-established and thriving Vietnamese American commercial districts throughout the United States and California, including enclaves in Oakland, Orange County, Sacramento, San Diego, San Francisco, and San Jose; and
WHEREAS, More than 450,000 Vietnamese now live in California, with the largest concentration of Vietnamese found outside of Vietnam residing in Orange County, particularly in the cities of Garden Grove, Santa Ana, Westminster, and Fountain Valley; and
WHEREAS, San Jose, with a population of 900,000, has the largest concentration of Vietnamese of any American city, estimated at 10 percent of the city’s population; and
WHEREAS, In 2006, the U.S. Census Bureau survey of business owners reported that there are 50,321 Vietnamese businesses in California; and
WHEREAS, As we must teach our children and future generations important lessons from the Vietnam War, including how the plight of the Vietnamese refugees following the end of war serves as a powerful example of the values of freedom and democracy; and
WHEREAS, Refugees and immigrants from the former Republic of Vietnam who came to the United States and settled as free Vietnamese Americans are honored and remembered for their sacrifices for freedom and human rights and for their ongoing contributions to our democratic society; and
WHEREAS, An executive order issued by Governor Arnold Schwarzenegger honors the contributions of the Vietnamese American community to the State of California and recognizes their love for democracy, justice, and tolerance, upon which the symbol of the Vietnamese Heritage and Freedom flag was established; and
WHEREAS, The Vietnamese Heritage and Freedom flag, yellow, with three horizontal red stripes, is the only symbol that can unite most Vietnamese around the world and bring them together under the banner that symbolizes the aspiration for freedom and democracy in their homeland; and
WHEREAS, Although also united in sorrow as they commemorate April 30, 2011, as Black April, an occasion to reflect on the sacrifices of the past, Vietnamese American communities throughout
California consider Black April a celebration of the resilience of the Vietnamese people; now, therefore, be it Resolved by the Assembly of the State of California, the Senate thereof concurring, That in recognition of the great tragedy and suffering and lives lost during the Vietnam War era, the week of April 24, 2011, to April 30, 2011, inclusive, shall be proclaimed Black April Memorial Week, a special time for Californians to remember the countless lives lost during the Vietnam War era, and to hope for a more humane and just life for the people of Vietnam; and be it further Resolved, That, to honor a community that has added so much personal, cultural, and economic value to the social fabric of the great State of California, which embraces ethnic and cultural diversity, the month of April 2011 be recognized as Vietnamese American Month.
Friday, April 29, 2011
Bà Nguyễn Văn Thiệu và Giấc Mơ Hồi Hương
Đức Hà
TS: Đúng 100 ngày sau khi qua đời, Hội Đền Hùng Hải Ngoại phối hợp với nhiều hội đoàn cùng tổ chức Tuần Bách Nhật cho ông Nguyễn Văn Thiệu tại San Jose; bài viết được đăng trên tuần báo Viet Mercury ngày 11 tháng Giêng, 2002.
“Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả ông bà và mang tro cốt của ổng về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi,” bà Nguyễn Văn Thiệu nói như vậy về ước vọng của bà như một phụ nữ Việt bình thường không quên ơn tổ tiên dòng họ.
Lần đầu tiên người ta được biết thêm đôi chút về gia đình cựu nguyên thủ Việt Nam Cộng Hòa kể từ khi hai ông bà và những người con ra khỏi Dinh Độc Lập tháng Tư năm 1975 để sống ẩn dật tại bên ngoài thành phố Boston, Massachusetts.
Từ hơn 26 năm nay người ta không được biết gì nhiều cho đến khi ông bất ngờ qua đời cách nay 100 ngày với một đám tang lớn gây ngạc nhiên cho cả vùng Boston. Ông mãn phần ở tuổi 78.
Bà Nguyễn Văn Thiệu đến San Jose cùng với hai người con, Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Thiệu Long, để dự lễ Tuần Bách Nhật cố Tổng Thống Thiệu do Hội Đền Hùng Hải Ngoại cùng với nhiều hội đoàn Vùng Vịnh phối hợp tổ chức. Hơn 500 người đã đến dự lễ trong đó có nhiều chính khách, quan chức chính quyền và tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa trước đây.
Nếu so với những bức hình chụp chung khi ông còn sống thì bà Nguyễn Thị Mai Anh, năm nay 71 tuổi quê ở Mỹ Tho thuộc một gia đình Công Giáo, không thay đổi bao nhiêu khi bà xuất hiện tại San Jose cuối tuần vừa qua. Một phụ nữ cố tình đến hội trường American G.I. Forum trên đường Story chỉ để nhìn bà cho biết, có nói rằng “bả đẹp và sang quá.”
Dáng người thấp, tròn trịa, mái tóc bạc trắng chải gọn ghẽ, một tướng đi khoan thai và giọng nói nhỏ nhẹ chậm rãi, bà Mai Anh trong chiếc áo dài gấm đen có điểm những chữ thọ trắng, là cái đinh của buổi lễ.
Khách đến với bà đông đảo và vẫn trân trọng bà như là phu nhân của người từng nắm nhiều quyền uy của đất nước với lập trường chống cộng đến cùng chứ không phải như vợ của một lãnh tụ bị thất sủng về vườn. Tuy vậy nếu với bạn bè thân thiết trong nội các cũ của chồng, bà chuyện trò cởi mở thì với báo chí bà tỏ ra ngần ngại và e dè. Ngay cả khi được mời lên tiếng cám ơn quan khách tại buổi lễ bà cũng nhường cho trưởng nữ Tuấn Anh. Cho đến buổi chiều tại đền Quốc Tổ và sau nhiều lần nài nỉ câu trả lời của bà vẫn là “thôi cho tôi miễn đi, tôi có biết gì đâu mà nói.”
Nhưng sau cùng thì bà cũng nhận lời cho chương trình truyền hình Diễn Đàn Việt Nam, chương trình phát thanh của cộng đồng người Việt do Quang Chánh phụ trách và báo Việt Mercury một vài phút tâm tình.
“Chỉ nói chuyện gia đình thôi nha, tôi không biết chuyện chính trị gì đâu,” bà dặn trước.
“Việc ổng đi đột ngột cũng làm cho gia đình hơi bối rối; mới hôm trước ổng đi khám bác sĩ cho thấy tim mạch đều tốt mà qua ngày hôm sau áp huyết tăng cao đưa đến hôn mê rồi ổng đi luôn sau khi cho biết bị nhức đầu quá.”
“Bây giờ thì tinh thần ổn định rồi, con cái cũng dắt đi đây đi đó khuây khỏa,” bà nói.
Trong suốt buổi lễ với phần nhắc lại tiểu sử của chồng cùng những đoạn phim thời sự, người ta chỉ thấy con gái Tuấn Anh nhiều lần thấm nước mắt và phải lấy kiếng đen ra đeo còn bà Mai Anh tỏ ra bình tĩnh hơn nhưng ngồi bất động trên chiếc ghế sắt như mọi người khác chứ không được dành riêng một cái ghế bành trịnh trọng như vẫn thường thấy trước đây.
“Ông Già làm gì, liên lạc với ai, mấy mẹ con tôi không biết gì đâu,” bà kể lại về những sinh hoạt của ông Thiệu khi sinh sống tại vùng Boston. Bà cho biết Ông Già là tên gọi thân mật trong gia đình.
“Tôi có hỏi thì ổng chỉ nói ‘Có gì đâu chỉ nói chuyện với bạn bè thôi. Ổng kín đáo lắm, tôi hoàn toàn không biết gì nhưng với vợ con thì Ông Già rất vui vẻ tử tế.”
Bà nói thêm rằng chồng bà không chỉ kín đáo trong việc làm mà ngay cả trong tình cảm ông cũng kín đáo và theo phong tục cổ xưa.
“Các con hay hỏi tôi rằng sao không thấy ba hôn mẹ hay nói điều gì âu yếm với mẹ; tánh ổng vậy đó,” bà nói.
Lúc còn cầm quyền ông Thiệu được xem là người nhẫn nại, thận trọng và mưu trí.
Trước năm 75 người dân Sài Gòn còn đồn đãi nhau về những chuyện buôn lậu tham những bên cạnh chuyện ông Thiệu có liên hệ tình cảm với một vài ca sĩ và cả với một chủ nhà hàng ăn bên ngoài Sài Gòn. “Tất cả cũng chỉ là những tin đồn, không ai biết thực hư ra sao,” theo lời một nhân vật thân cận trong chính quyền trước đây không muốn nêu danh tính.
“Bà Thiệu là một người đứng cạnh chồng, một người chỉ biết lo cho gia đình, không phải người của quần chúng.”
Người này còn công nhận bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu vênh váo của một người có quyền thế. Thỉnh thoảng và cũng rất ít, bà xuất hiện đi ủy lạo cho thương bệnh binh và chưa hề tuyên bố một điều gì.
Vì thế việc bà nhận trả lời phỏng vấn của báo chí mới hôm Chủ Nhựt vừa qua là cả một sự phá bỏ thông lệ bà vẫn giữ từ xưa đến nay.
Bà Mai Anh cho hay “Ông Già rất khắt khe trong việc dạy dỗ con cái, ổng theo xưa chớ không chịu lối giáo dục phương Tây.” Cũng vì thế người con trai út, Nguyễn Thiệu Long sinh bên Anh năm 1976 nói tiếng Việt rất rành. Nếu có ai tưởng lầm, hỏi chuyện bằng tiếng Anh mới thấy Long trả lời sành sõi bằng tiếng Việt, tuy phát âm không rõ lắm. Chị lớn của Long, Tuấn Anh, người con gái từng làm cả Sài Gòn phải chú ý khi thành hôn trong một đám cưới quy mô đình đám tổ chức tại Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn và dạ tiệc tại nhà hàng Caravelle năm 1973, cũng có mặt ở San Jose.Với một chiếc áo dài đen, dáng người thấp và mảnh khảnh, Tuấn Anh luôn luôn đi sát mẹ tại buổi lễ cũng như tại Đền Hùng trên đường số Chín. Việt Mercury cố hỏi cô một vài câu thì cô chỉ cười rồi chỉ tay sang mẹ Mai Anh.
Hỏi bà Thiệu rằng sao gia đình lại chọn Boston thay vì ở vùng có khí hậu ấm áp hay nơi có đông đảo người Việt cho bớt nhớ nhà. Bà đáp:
“Ổng nói rằng ở xa xa đặng thở cho dễ.”
Ông bà Thiệu có ba người con ruột, hai trai và một gái; người con gái nữa trong gia đình, Nguyễn Thị Phương Anh, là con của anh ông Thiệu mà hai ông bà nhận về nuôi khi mẹ ruột Phương Anh qua đời. “Cháu nó coi tôi như mẹ ruột vậy,” bà cho biết.
Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm đại sứ.
Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Văn Lộc sang Anh học thì cả nhà lại sang sống tại London cho đến khi mấy người con sang Mỹ tiếp tục học vấn thì cả nhà cũng đến định cư tại Boston năm 1985 và bà Mai Anh nói rằng sẽ ở tại đó luôn cho gần con cái.
“Thôi ở đó luôn, chớ dọn nhà không nổi đâu.”
Buổi lễ tại hội trường trên đường Story diễn ra long trọng với nghi thức tế lễ đầy đủ theo phong tục cổ truyền Việt Nam với tiếng trống tiếng chiêng và nhiều quan khách Việt Mỹ tham gia.
Bữa cơm tối tại Quốc Tổ Vọng Từ thì đầy những thân tình ấm áp của một buổi họp mặt bằng hữu với mâm cỗ bình dân như gà luộc chấm muối tiêu chanh, đồ xào bóng da heo, dưa cải chua, canh măng nấm đông cô và xôi chè.
Tuy vậy vào lúc sáng ở bên ngoài hội trường hành lễ cũng có một phụ nữ đơn độc phân phát đến mọi người bức thư ký tên Nancy Trần và một số điện thoại ở San Jose với nội dung đả phá việc làm của Hội Đền Hùng là “ngu xuẩn, thiếu suy nghĩ” và gọi ông Thiệu là “tội đồ của dân tộc Việt Nam.”
Sau ngày 30 tháng Tư, 1975 ông Thiệu đã bị chỉ trích nhiều nhứt và bị coi như người phải gánh chịu tất cả trách nhiệm khiến Miền Nam sụp đổ đưa đến việc cả triệu người phải bỏ nước ra đi.
Vào những ngày cuối đời, Tướng Dương Văn Minh có cho biết muốn về an nghỉ vĩnh viễn tại quê nhà trước khi qua đời, giờ đây người ta lại biết thêm Tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng có ước muốn tương tự.
Không ai biết đến bao giờ hai ông mới về lại được quê hương sinh quán, nơi mà có lúc một nửa phần đất nước hiện nay nằm trọn trong tay hai ông.
Subscribe to:
Posts (Atom)





